Số lượt truy cập
  Tổng truy cập 4657427
  Hiện tại có 101 khách
Tìm kiếm thông tin
Tin mới
Những bất ngờ trong phiên tòa xét xử vụ án đánh bạc nghìn tỷ tại phú Thọ
Sắp chấm dứt ‘loạn’ hoa hậu?
22 công an, thẩm phán... bị bắt trong năm qua
2 tướng công an 'chống lưng' cho đường dây đánh bạc ra sao?
Cựu trung tướng Phan Văn Vĩnh từ chối công bố bản án trên mạng
Công bố cáo trạng truy tố ông Phan Văn Vĩnh, Nguyễn Thanh Hóa
Đang xét xử cựu Trung Tướng Phan Văn Vĩnh và vụ án “đánh bạc nghìn tỷ”
Bắt tạm giam nguyên thứ trưởng Bộ Lao động - thương binh và xã hội
Phân biệt đặc xá, đại xá và tha tù trước thời hạn có điều kiện
VKSND tối cao hướng dẫn phát hiện vi phạm và thực hiện quyền kháng nghị
Chọn vấn đề :
 
Điều kiện và thủ tục để được hưởng trợ cấp thất nghiệp
Hỏi:
Điều kiện và thủ tục để được hưởng trợ cấp thất nghiệp
Người gửi: Minh Hao - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 05/11/2018)
Đáp:
 Khoản 3 Điều 49 Luật Việc làm số 38/2013/QH13 quy định điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp: “Người lao động đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại Khoản 1 Điều 46 của Luật này”. Theo đó, Khoản 1 Điều 46 của Luật Việc làm quy định: Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập. Như vậy, thời hạn nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp là trong vòng 3 tháng kể từ thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

Người lao động sẽ được nhận tiền trợ cấp thất nghiệp nếu đáp ứng 3 điều kiện:

- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong 24 tháng, trước khi nghỉ việc.

- Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm dịch vụ việc làm;

- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, từ ngày nộp hồ sơ.

Tiền trợ cấp thất nghiệp được tính theo công thức sau:

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng

=

Mức lương bình quân của 06 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp

x

60%

- Với người lao động hưởng lương từ ngân sách Nhà nước: Tiền trợ cấp thất nghiệp hằng tháng tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở.

- Với người lao động hưởng lương từ doanh nghiệp: Tiền trợ cấp thất nghiệp hằng tháng tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng.

Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp.

Sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.

Hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm:

- Đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu;

- Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng lao động đã hết hạn hoặc Quyết định thôi việc; Quyết định sa thải; Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động…

- Sổ bảo hiểm xã hội.

Nơi nộp hồ sơ: Hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp được nộp cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động và chưa có việc làm.

Thời hạn giải quyết hồ sơ: Trung tâm dịch vụ việc làm trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

Công chức tái hôn có được sinh con thứ ba?Công chức tái hôn có được sinh con thứ ba?
Hỏi:
Tôi là công chức, đã có hai con với người chồng trước. Hiện tại, tôi có ý định tái hôn. Xin hỏi,tôi có thể sinh thêm một đứa con với người chồng sau được không? Nếu sinh thêm một đứa con nữa thì có vi phạm chính sách dân số hay không?
Người gửi: Lan Anh, - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 29/10/2018)
Đáp:
 Căn cứ theo Quy định số 64 của Bộ Chính trị và hướng dẫn số 11/HDUBKT ngày 24/3/2008 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cán bộ, Đảng viên nếu tái hôn mà cả hai đã có con riêng hoặc một trong hai người đã có con riêng thì được sinh một con chung. Trường hợp sinh con chung thứ hai là vi phạm quy định, coi như sinh con lần thứ ba.

Khoản 6 Điều 2 Nghị định 20/2010/NĐ-CP ngày 08/32010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh Dân số (có hiệu lực từ ngày 24/9/2010) về trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con, như sau: “Cặp vợ chồng mà một hoặc cả hai người đã có con riêng (con đẻ), chỉ được sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh. Quy định này không áp dụng cho trường hợp tái hôn giữa hai người đã từng có hai con chung trở lên và hiện còn sống”.

Như vậy, cụ thể trong trường hợp của bạn đã có hai con với chồng trước, sau khi ly hôn và kết hôn với chồng mới thì bạn chỉ được sinh một hoặc hai con trở lên trong một lần sinh. Nếu bạn sinh con lần thứ hai thì bị coi là vi phạm chính sách kế hoạch hóa gia đình. Tuy nhiên, trường hợp bạn ly hôn rồi sau đó tái hôn với người chồng cũ đã có hai con chung thì bạn không được sinh thêm.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (HUELAW)

Xây nhà cấp 4 ở nông thôn có phải xin phép xây dựng?
Hỏi:
Vợ chồng tôi dự định sắp tới sẽ ra ở riêng. Chúng tôi được bố mẹ tặng cho một thửa đất ở nông thôn hiện đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sắp tới chúng tôi sẽ xây nhà cấp 4 trên thửa đất này. Xin hỏi, chúng tôi có phải làm thủ tục xin giấy phép xây dựng hay không?
Người gửi: Trần Hồng Ân - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 22/10/2018)
Đáp:
 : Khoản 2 Điều 89 luật xây dựng năm 2014 quy định về các công trình được miễn giấy phép xây dựng bao gồm:

a) Công trình bí mật nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp và công trình nằm trên địa bàn của hai đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên;

b) Công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định đầu tư;

c) Công trình xây dựng tạm phục vụ thi công xây dựng công trình chính;

d) Công trình xây dựng theo tuyến ngoài đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận về hướng tuyến công trình;

đ) Công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được thẩm định thiết kế xây dựng theo quy định của Luật này;

e) Nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển nhà ở có quy mô dưới 7 tầng và tổng diện tích sàn dưới 500 m2 có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

g) Công trình sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong công trình không làm thay đổi kết cấu chịu lực, không làm thay đổi công năng sử dụng, không làm ảnh hưởng tới môi trường, an toàn công trình;

h) Công trình sửa chữa, cải tạo làm thay đổi kiến trúc mặt ngoài không tiếp giáp với đường trong đô thị có yêu cầu về quản lý kiến trúc;

i) Công trình hạ tầng kỹ thuật ở nông thôn chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng và ở khu vực chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn được duyệt;

k) Công trình xây dựng ở nông thôn thuộc khu vực chưa có quy hoạch phát triển đô thị và quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt; nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, trừ nhà ở riêng lẻ xây dựng trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa.

Chủ đầu tư xây dựng công trình được miễn giấy phép xây dựng theo quy định tại các điểm b, d, đ và i khoản này có trách nhiệm thông báo thời điểm khởi công xây dựng kèm theo hồ sơ thiết kế xây dựng đến cơ quan quản lý xây dựng tại địa phương để theo dõi, lưu hồ sơ.

Đồng thời, điều 41 Luật Xây dựng có quy định: Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm tổ chức công bố quy hoạch xây dựng xã và điểm dân cư nông thôn.

Như vậy, căn cứ quy định của Luật Xây dựng 2014 nêu ở trên, nếu UBND xã nơi có đất của bạn chưa công bố công khai quy hoạch xây dựng quy hoạch phát triển đô thị; quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt và thôn quê của bạn không nằm trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa thì việc xây dựng nhà ở riêng lẻ của người dân ở đó, không phải xin phép xây dựng.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

Thủ tục để cha nhận lại con khi mẹ không đồng ý
Hỏi:
Trước đây, tôi với cô ấy chưa kết hôn mà có một đứa con chung. Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà tôi chưa thừa nhận đứa con này. Bây giờ tôi thấy muốn làm thủ tục nhận lại đứa con rơi của mình. Mẹ của cháu bé lại không đồng ý cho tôi làm thủ tục nhận lại con. Giờ tôi phải làm thế nào để có thể nhận lại con của mình để đảm bảo quyền lợi cho cháu.
Người gửi: Kiều Ân - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 15/10/2018)
Đáp:
 Căn cứ Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần khẳng định rằng, nếu đứa bé là con của bạn thì bạn có quyền nhận lại con của mình theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 101 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con như sau:

1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này”.

Như vậy, để xác định thẩm quyền giải quyết cho việc nhận lại con của bạn thuộc cơ quan nào thì cần xem xét trường hợp của bạn có tranh chấp hay không.

Theo quy định tại khoản 8 Điều 1 Nghị định số 06/2012/NĐ-CP của Chính phủ về điều kiện để đăng ký nhận cha, mẹ, con thì “việc nhận cha, mẹ, con theo quy định tại Mục này được thực hiện, nếu bên nhận, bên được nhận là cha mẹ con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha mẹ con và việc nhận cha mẹ con là tự nguyện không có tranh chấp giữa những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến việc nhận cha mẹ con". Thủ tục này được thực hiện bằng sự tự nguyện, không có tranh chấp giữa những người này.

Trong trường hợp của bạn, vì mẹ cháu bé thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cháu bé nên nếu người này không đồng ý cho bạn làm thủ tục nhận lại con thì được xem là có tranh chấp. Như vậy, thẩm quyền giải quyết việc nhận lại con của bạn là tòa án. Do đó, bạn có thể khởi kiện đến tòa án nhân dân cấp huyện để Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết việc nhận lại con cho bạn.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)
 
Bồi thường thiệt hại khi chủ đầu tư chậm giao nhà
Hỏi:
Tôi có mua một căn hộ chung cư. Tôi đã ký hợp đồng, đă hoàn tất nghĩa vụ thanh toán với chủ đầu tư. Tuy nhiên, hiện nay, thời hạn giao nhà theo hợp đồng hết đã lâu mà tôi vẫn chưa được nhận nhà. Chủ đầu tư lấy lý do hệ thống điện nước chưa hoàn thiện nên chưa bàn giao được. Xin hỏi, chủ đầu tư chậm bàn giao nhà cho người mua nhà có phải bồi thường thiệt hại không?
Người gửi: Vân Anh - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 13/10/2018)
Đáp:
 Khoản 4 Điều 22 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 quy định bên bán nhà phải có nghĩa vụ giao nhà, công trình xây dựng cho bên mua theo đúng thời hạn, chất lượng và các điều kiện khác đã thỏa thuận trong hợp đồng; giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và hồ sơ có liên quan theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Đồng thời, Điều 23 Luật KDBĐS cũng quy định rõ quyền của bên mua nhà, trong đó có quyền yêu cầu bên bán giao nhà, công trình xây dựng theo đúng thời hạn, chất lượng và các điều kiện khác đã thỏa thuận trong hợp đồng; giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và hồ sơ có liên quan theo thỏa thuận trong hợp đồng. Yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do việc giao nhà, công trình xây dựng không đúng thời hạn, chất lượng và các cam kết khác trong hợp đồng (Khoản 4 Điều 23 Luật KDBĐS).

Điều 56 Luật KDBĐS cũng quy định bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai như sau:

1. Chủ đầu tư dự án bất động sản trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải được ngân hàng thương mại có đủ năng lực thực hiện bảo lãnh nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư đối với khách hàng khi chủ đầu tư không bàn giao nhà ở theo đúng tiến độ đã cam kết với khách hàng.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố danh sách ngân hàng thương mại có đủ năng lực thực hiện bảo lãnh trong kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai.

2. Phạm vi, điều kiện, nội dung và phí bảo lãnh do các bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm thực hiện trách nhiệm của bên bảo lãnh quy định tại khoản 3 Điều này và phải được lập thành hợp đồng. Chủ đầu tư có trách nhiệm gửi bản sao hợp đồng bảo lãnh cho bên mua, bên thuê mua khi ký kết hợp đồng mua, thuê mua.

Hợp đồng bảo lãnh có thời hạn cho đến khi nhà ở được bàn giao cho bên mua, bên thuê mua.

3. Trường hợp chủ đầu tư không thực hiện bàn giao nhà ở theo tiến độ đã cam kết và bên mua, bên thuê mua có yêu cầu thì bên bảo lãnh có trách nhiệm hoàn lại số tiền ứng trước và các khoản tiền khác cho khách hàng theo hợp đồng mua bán, thuê mua nhà ở và hợp đồng bảo lãnh đã ký kết.

Như vậy, đối chiếu các quy định vừa trích dẫn ở trên với trường hợp của bạn thì việc chủ đầu tư bàn giao nhà chậm tiến độ theo hợp đồng mà hai bên đã ký là hành vi vi phạm pháp luật và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn.

Bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu chủ đầu tư bồi thường thiệt do hành vi vi phạm gây ra. Trong trường hợp chủ đầu tư từ chối hoặc không giải quyết yêu cầu đòi bòi thường của bạn thì bạn có thể khởi kiện lên Tòa án cấp có thẩm quyền để yêu cầu Tòa xem xét, giải quyết. 

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

Bị truy cứu TNHS có thành lập doanh nghiệp được không?
Hỏi:
Vừa qua tôi bị cơ quan công an khởi tố về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, hiện đang trong giai đoạn điều tra. Vì nhu cầu mở rộng sản xuất từ hộ kinh doanh cá thể của mình lên công ty, tôi muốn làm thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp. Xin hỏi, hiện nay tôi có thể đứng tên thành lập doanh nghiệp được không?
Người gửi: Trương Anh Tuấn - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 01/10/2018)
Đáp:
 Thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền của cá nhân, tổ chức và được Nhà nước bảo hộ. Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký doanh nghiệp theo quy định pháp luật. Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp như sau:

"1. Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

b) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;

d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;

e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.

Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh".

Truy cứu trách nhiệm hình sự là áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự qua các giai đoạn từ khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đến điều tra, truy tố và xét xử để buộc người đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi ấy, tức là phải chịu hình phạt. Người có khả năng nhận thức được hành vi của mình, có khả năng điều khiển được hành vi đó là người có năng lực trách nhiệm hình sự và sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu người đó thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự

Như vậy, theo điểm e khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp, bạn hiện đã bị cơ quan công an khởi tố thì không được thành lập doanh nghiệp.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

Giải quyết việc nuôi con khi không đăng ký kết hôn
Hỏi:
Chúng tôi sống chung 15 năm nhưng không có đăng ký kết hôn. Chúng tôi có hai con chung đều mang họ mẹ, có đăng ký tên tôi là cha trong giấy khai sinh. Đến nay do mâu thuẫn, chúng tôi không sống chung nữa, tôi muốn nuôi một đứa nhưng cô ấy từ chối. Xin hỏi, là cha, tôi có quyền đòi nuôi con không?
Người gửi: Phùng Tiến Thanh - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 25/09/2018)
Đáp:
 Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về việc xác định cha, mẹ như sau: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”.

Mặc dù hai bạn không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng, con bạn tuy mang họ mẹ nhưng bạn đã thực hiện các thủ tục nhận con, ghi tên bạn là cha trong giấy khai sinh và được sự đồng ý của cô ấy nên theo quy định của pháp luật, quyền nuôi con được hiểu như sau.

Theo khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về việc giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Theo đó, “vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

Như vậy, với trường hợp bạn đã làm thủ tục nhận con theo quy định của pháp luật, nhưng hai bạn không thỏa thuận được ai sẽ là người nuôi con sau khi chấm dứt việc chung sống, Tòa án sẽ quyết định dựa trên quyền lợi của những đứa trẻ.

Trân trọng.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (HUELAW)

 

Không ký hợp đồng lao động với người lao động có vi phạm?
Hỏi:
Tôi làm việc cho một công ty đã được 7 tháng nhưng công ty không ký hợp đồng lao động với tôi. Khi tôi đề nghị công ty phải ký hợp đồng lao động thì công ty chuyển tôi làm công việc với chức danh thấp hơn. Công ty làm vậy có đúng?
Người gửi: Ngọc Anh - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 18/09/2018)
Đáp:
 Khoản 1 Điều 18 Bộ luật Lao động 2012 quy định về nghĩa vụ giao kết Hợp đồng lao động như sau: Trước khi nhận NLĐ vào làm việc, người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ) phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động (HĐLĐ). Đồng thời, Khoản 1 Điều 16 BLLĐ 2012  cũng quy định: HĐLĐ phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 2 bản, NLĐ giữ 1 bản, NSDLĐ giữ 1 bản, trừ trường hợp đối với công việc tạm thời có thời hạn  dưới 3 tháng thì 2 bên có thể giao kết bằng lời nói. Do đó, việc bạn đã làm việc cho công ty được 7 tháng mà công ty không ký HĐLĐ và giao cho bạn một bản là không đúng quy định pháp luật.

Về việc công ty tự ý điều chuyển công việc của bạn với chức danh thấp hơn, căn cứ Khoản 1 Điều 31 BLLĐ: Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, NSDLĐ được quyền tạm thời chuyển NLĐ làm công việc khác so với HĐLĐ, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của NLĐ. Như vậy, Nếu không thuộc trường hợp theo quy định tại Điều 31 BLLĐ thì Cty không được quyền chuyển bạn làm công việc khác nếu như không có thoả thuận của bạn.

Đồng thời, khi tạm thời chuyển NLĐ làm công việc khác so với HĐLĐ, NSDLĐ phải báo cho NLĐ biết trước ít nhất 3 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của NLĐ. NLĐ được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

Do đó, công ty không ký HĐLĐ với bạn, sau đó lại tự ý điều chuyển bạn làm công viêc có chức danh thấp hơn là trái quy định của pháp luật. Bạn có thể khiếu nại đến Phòng LĐTBXH hoặc khởi kiện công ty ra toà để được bảo đảm quyền lợi của mình.

Trân trọng.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – VĂN PHÒNG LUẬT SƯ HUẾ (HUELAW)

 

Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Hỏi:
Chị tôi muốn mở cửa hàng bán quần áo để tăng thu nhập cho gia đình nhưng anh rễ tôi không đồng ý. Vì vậy, chị tôi đòi chia một phần tài sản chung để chị lo liệu mở cửa hàng. Hai vợ chồng mâu thuẫn vì không thống nhất được với nhau. Xin hỏi, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng chị tôi có được chia tài sản chung không?
Người gửi: Bá Luân - , thành phố Đông Hà, Quảng Trị (Ngày gửi: 27/08/2018)
Đáp:
 Theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; Nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ sau đây: Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; Nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; Nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan).

Như vậy, trong trường hợp trên, trước hết chị bạn nên thuyết phục chồng đồng ý về việc chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung theo nguyện vọng chính đáng của mình, nếu không thỏa thuận được thì chị bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Lưu ý, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không không được vi phạm nguyên tắc quy định tại Điều 42 Luật HNGĐ mà chúng tôi đã viện dẫn ở trên.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – VĂN PHÒNG LUẬT SƯ HUẾ (HUELAW)

Thế nào là công chứng, chứng thực?
Hỏi:
Tôi xin hỏi công chứng và chứng thực khác nhau như thế nào? Những giấy tờ nào cần công chứng? Những giấy tờ nào cần chứng thực?
Người gửi: Trúc Hân - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 11/08/2018)
Đáp:
 Khoản 1 Điều 2 Luật công chứng 2014 quy định: “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch); tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.

Điều 2 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch: “Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính; Chứng thực hợp đồng, giao dịch là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch…”.

Theo các quy định vừa trích dẫn ở trên, có thể thấy công chứng và chứng thực có một số điểm khác biệt cơ bản như sau:

- Về thẩm quyền thực hiện công chứng, chứng thực: Công chứng hợp đồng, giao dịch do cơ quan bổ trợ tư pháp cụ thể là Phòng Công chứng và Văn phòng Công chứng thực hiện. Còn chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký do UBND cấp xã, Phòng Tư pháp cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện.

Cần lưu ý công chứng viên cũng có thẩm quyền chứng thực. Theo Điều 5 Nghị định 23/2015/NĐ-CP: “Chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam liên kết với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc chứng nhận” và “Chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản, trừ việc chứng thực chữ ký người dịch”, ký chứng thực và đóng dấu của Phòng công chứng, Văn phòng công chứng”.

- Chứng thực chỉ thực hiện đối với bản sao, đối với chữ ký trong các giấy tờ của người yêu cầu hay chứng thực sự việc và người chứng nhận không đề cập đến nội dung. Trong khi đó công chứng bảo đảm nội dung của một hợp đồng, một giao dịch, công chứng viên chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó.

Chúng tôi có thể liệt kê một số loại hợp đồng, giao dịch bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực như sau:

- Hợp đồng mua bán nhà ở (Điều 430 BLDS 2015); Hợp đồng trao đổi tài sản (Điều 455).

- Trường hợp mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn, thế chấp nhà ở, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng, trừ trường hợp tổ chức tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương; mua bán, cho thuê mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; mua bán, cho thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư; góp vốn bằng nhà ở mà có một bên là tổ chức; cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì không bắt buộc phải công chứng, chứng thực hợp đồng.

- Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực (Điều 167 Luật đất đai 2013).

Bộ phận Tư vấn Pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)
 
Thuê người chăm sóc cha mẹ ốm phải làm hợp đồng
Hỏi:
Mẹ tôi năm nay 79 tuổi bị tai biến phải nằm một chỗ, tôi và vợ tôi lại đi làm không có thời gian chăm sóc nên dự định thuê người giúp việc về nhà chăm sóc mẹ. Vậy tôi có phải làm hợp đồng với người sẽ chăm sóc mẹ không? Nếu có thì làm thế nào cho đúng?
Người gửi: Nguyễn Hoài Ân - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 01/08/2018)
Đáp:
 Hợp đồng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi giữa người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng người cao tuổi với cá nhân hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi phải được lập thành văn bản và phải bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người cao tuổi, phải có ý kiến đồng ý của người cao tuổi hoặc người giám hộ người cao tuổi.

Hợp đồng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi được quy định tại Điều 2 Nghị định 06/2011/NĐ-CP hướng dẫn Luật người cao tuổi, cụ thể như sau:

1. Hợp đồng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi giữa người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng người cao tuổi với cá nhân hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi phải được lập thành văn bản.

2. Hợp đồng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi phải bảo đảm nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người cao tuổi, phải có ý kiến đồng ý của người cao tuổi hoặc người giám hộ người cao tuổi.

3. Hợp đồng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi phải có các nội dung chủ yếu sau đây:

a) Tình trạng sức khỏe, bệnh tật của người cao tuổi;

b) Thời gian chăm sóc, địa điểm chăm sóc, phương thức thực hiện chăm sóc;

c) Chi phí dịch vụ, phương thức thanh toán;

d) Quyền và nghĩa vụ của người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng;

đ) Quyền và nghĩa vụ của cá nhân hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ chăm sóc;

e) Các nội dung khác.

4. Việc ký kết, thực hiện, sửa đổi, bổ sung và chấm dứt hợp đồng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi do các bên thỏa thuận và theo quy định của pháp luật hiện hành.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, việc thuê người chăm sóc cha mẹ cần làm hợp đồng. Bạn căn cứ những quy định viện dẫn trên để áp dụng.

Trân trọng.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

Không ký hợp đồng lao động có được bồi thường khi bị tai nạn lao động?
Hỏi:
Công ty tôi có thuê nhân công về làm việc nhưng lại không ký hợp đồng lao động; trong quá trình làm việc người lao động bị tai nạn lao động. Vậy công ty chúng tôi sẽ phải bồi thường như thế nào? Công ty có mua bảo hiểm cho người lao động thì có cần bồi thường nữa không?
Người gửi: Trọng Anh - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 23/07/2018)
Đáp:
 Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (Khoản 1 Điều 142 BLLĐ). Căn cứ Khoản 3 Điều 2 Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015 quy định về đối tượng áp dụng thì Người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật an toàn vệ sinh lao động, cho nên khi xảy ra tai nạn lao động họ cũng được hưởng chế độ bồi thường, hỗ trợ từ người sử dụng lao động của mình.

Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi xảy tai nạn lao động quy định tại các Điều 38, Điều 39 Luật An toàn vệ sinh lao động, Điều 144 Bộ luật lao động trong đó về trách nhiệm về bồi thường, trợ cấp gồm có các khoản sau:

1. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp với mức như sau: Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

Tiền lương  bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động.

2.  Trường hợp người sử dụng lao động đã mua bảo hiểm tai nạn cho người bị tai nạn lao động tại các đơn vị hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo hiểm, thì người bị tai nạn lao động được hưởng các khoản chi trả bồi thường, trợ cấp theo hợp đồng đã ký với đơn vị kinh doanh dịch vụ bảo hiểm. Nếu số tiền mà đơn vị kinh doanh dịch vụ bảo hiểm trả cho người bị tai nạn lao động thấp hơn mức đã nêu ở trên, thì người sử dụng lao động phải trả phần còn thiếu.

Người lao động chỉ không được bồi thường khi thuộc các trường hợp sau:

- Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;

- Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân;    

- Do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.

Vì vậy, mặc dù không ký hợp đồng lao động nhưng người sử dụng lao động vẫn phải có trách nhiệm đối với người lao động khi xảy ra tai nạn lao động theo quy định của pháp luật.

Trân trọng!

Bộ phận Tư vấn pháp luật – VĂN PHÒNG LUẬT SƯ HUẾ (HUELAW)
 
Cho mượn sổ đỏ vay thế chấp ngân hàng
Hỏi:
Anh rễ tôi đã thế chấp nhà đất của anh tại ngân hàng để vay tiền cho vợ chồng tôi mua nhà. Khi anh rễ thế chấp sổ đỏ để vay tiền cho vợ chồng tôi, chúng tôi không có bất kỳ sự thỏa thuận nào cho việc vay mượn tiền này. Vợ chồng tôi đã dùng số tiền này để mua nhà đất hiện nay đang ở. Nay, cuộc sống gia đình chúng tôi không hạnh phúc, tôi đang có ý định sẽ ly hôn và bán căn nhà này để trả lại tiền cho anh rễ. Tuy nhiên, chồng tôi bản tính vũ phu, tâm tính không được tốt nên tôi sợ khi bán nhà sẽ không trả tiền cho ngân hàng để anh rễ rút sổ đỏ đang thế chấp tại ngân hàng để vay tiền cho chúng tôi. Xin hỏi, có cách nào để tôi xử lý được tình hình để đảm bảo trả được khoản vay tại ngân hàng mà anh rễ tôi đang thế chấp sổ đỏ của mình
Người gửi: Cho mượn sổ đỏ vay thế chấp ngân hàng - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 06/07/2018)
Đáp:
 Theo thông tin bạn cung cấp, anh rễ bạn đã thế chấp nhà đất của anh bạn để vay tiền tại ngân hàng, sau đó lại dùng số tiền này cho vợ chồng bạn mượn để mua nhà. Nghĩa là, việc vay mượn này là quan hệ giữa bên thế chấp (anh rễ bạn) và bên nhận thế chấp (ngân hàng). Quyền, nghĩa vụ của bên thế chấp và bên nhận thế chấp phát sinh dựa trên quan hệ này, không phát sinh trách nhiệm, nghĩa vụ của vợ chồng bạn đối với ngân hàng. Việc nhận khoản tiền này để mua nhà là quan hệ dân sự về việc vay mượn tài sản giữa vợ chồng bạn và anh rễ.

Để đảm bảo tài sản là nhà đất của anh rễ đang thế chấp tại ngân hàng không bị xử lý để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì có thể xử lý theo một trong các hướng sau:

Thứ nhất, vợ chồng bạn bán nhà và thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho anh rễ để anh rễ tất toán toàn bộ khoản vay tại ngân hàng, nhận lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp trước khi giải quyết việc ly hôn. Trường hợp này, như bạn nói có thể chồng bạn không chấp nhận bán nhà hoặc bán nhà mà không chịu trả nợ cho anh rễ.

Thứ hai, thỏa thuận với chồng việc dùng nhà đất của vợ chồng bạn đang đứng tên để đề nghị ngân hàng chấp nhận thay thế cho tài sản mà anh rễ bạn đang thế chấp tại ngân hàng. Theo đó, tài sản thế chấp để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ cho khoản vay của anh rễ tại ngân hàng là nhà đất của chính vợ chồng bạn.

Thứ ba, vợ chồng bạn và anh rễ thực hiện ký kết hợp đồng vay tài sản với người anh rễ. Tài sản vay là số tiền thực tế mà vợ chồng bạn đã nhận từ anh rễ để mua ngôi nhà đang ở hiện nay. Đây là căn cứ để anh rễ có thể khởi kiện về việc đòi nợ với vợ chồng bạn tại Tòa án trong trường hợp vợ chồng bạn không tự nguyện trả nợ cho anh rễ bạn.

Tuy nhiên, như bạn trình bày, đối với bản tính không tốt của chồng như bạn nói, có thể sẽ không thuyết phục được chồng bạn chấp nhận các phương án 1, 2, 3 mà tôi đã nêu ra ở trên. Trong trường hợp, bạn không thể yêu cầu chồng bạn thực hiện một trong các phương án này mà bạn vẫn quyết định sẽ ly hôn thì anh rể bạn có thể gửi đơn có yêu cầu độc lập trong vụ án ly hôn để yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bạn có nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền vợ chồng bạn đã mượn để mua nhà. Kèm theo đơn yêu cầu độc lập, anh rễ bạn cần nộp cho Tòa án các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu trên là có căn cứ (các bằng chứng về việc giao nhận tiền, chuyển tiền, ... để chứng minh số tiền vợ chồng bạn mua nhà là mượn từ anh rễ bạn).

Trân trọng.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

Tội lừa đảo
Hỏi:
Em có một chị bạn mượn điện thoại cảm ứng màn hình màu âm thanh nổi trị giá điện thoại chỉ vài trăm nghìn. Em cho mượn đến nay đã hai tháng. Trước đây một tháng em có điện thoại nhắn tin cho chị ấy để đòi lại điện thoại nhưng chị cứ hẹn ngày này sang ngày khác mà vẫn không chịu trả điện thoại cho em. Đến nay em nhắn tin gọi điện chị ấy không nghe máy. Xin hỏi, em có thể trình báo về tội lừa đảo ra cơ quan công an nơi chị ấy sinh sống được không? Hành vi trên có cấu thành tội lừa đảo hay không?
Người gửi: Nguyễn Thùy Dương - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 06/07/2018)
Đáp:
 Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) định nghĩa về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: (a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; (b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại”.

Như vậy, một trong những yếu tố để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ 2.000.000 đồng trở lên, nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm theo một trong các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, người phạm tội còn phải có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản.

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn của bạn không thực hiện hành vi, thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại di động của bạn. Hơn nữa, hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ 2.000.000 đồng trở lên mới cấu thành tội phạm. Trường hợp của bạn chiếc điện thoại có giá trị vài trăm nghìn chưa đủ yếu tố để cấu thành tội lừa đảo.

Bạn có thể trình báo sự việc cho cơ quan công an cấp xã để yêu cầu can thiệp, giải quyết. Trường hợp bạn của bạn vẫn cố tình không trả lại chiếc điện thoại cho bạn thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với mức phạt từ 2 đến 5 triệu đồng theo quy định tại điểm 2 Khoản 2 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình.

Trân trọng.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

Xây dựng sân phơi nằm trong sổ đỏ
Hỏi:
Nhà tôi xây dựng trên phần đất trong sổ đỏ và không làm bất kỳ chi tiết nào ra ngoài phần đất trên sổ. Tầng 3 tôi chỉ để 1 phòng phía trước, phía sau không xây lên hết mà để 90 cm để làm sân phơi. Phía sau nhà hiện tại là đất vườn nhà ông Hiếu, ông này buộc tôi phải xây lên không cho để 90cm với lý do không cho nhìn sang nhà ông ta. Vậy cho tôi hỏi xây dựng như vậy có sai phạm không? Hiện tôi không có giấy phép xây dựng mà chi có văn bản của UND xã xác nhận có nhà 3 tầng trên đất.
Người gửi: Phạm Xuân Hải - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 06/07/2018)
Đáp:
 1. Yêu cầu kỹ thuật đối với công trình xây dựng có sân phơi theo quy định tại Khoản 2.8.13 Quyết định 04/2008 QĐ-BXD  về quy chuẩn xây dựng Việt Nam quy định:Ở mặt tiền các ngôi nhà dọc các đường phố không được bố trí sân phơi quần áo”. Bạn bố trí sân phơi ở phía sau nhà. Do đó, về nguyên tắc là không vi phạm các quy định về quy chuẩn xây dựng. Vì vậy, việc người hàng xóm lấy lý do không cho nhìn sang nhà người này để yêu cầu bạn xây bít lại là không có căn cứ.

Quy định về việc tránh tia nhìn trực tiếp sang nhà bên cạnh liên quan đến các vấn đề về nguyên tắc trổ cửa trong xây dựng. Điều 178 Bộ luật Dân sự quy định về hạn chế quyền trổ cửa: “Chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa ra vào, cửa sổ quay sang nhà bên cạnh, nhà đối diện và đường đi chung theo quy định của pháp luật về xây dựng”. Khoản 8 Điều 12 Luật xây dựng 2014 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm:
“ Xây dựng công trình không tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được lựa chọn áp dụng cho công trình.”

Quy chuẩn xây dựng ban hành kèm Quyết định 04/2008 QĐ-BXD thay thế phần II của quy chuẩn xây dựng ban hành kèm QĐ số 682/BXD-CSXD 1996 nên về việc trổ cửa sổ theo nguyên tắc vẫn phải áp dụng Quy chuẩn xây dựng ban hành kèm QĐ số 682/BXD-CSXD 1996 của Bộ Xây Dựng, cụ thể: Theo điểm 1, khoản 7.12.2, Điều 7.12 quy chuẩn xây dựng Việt Nam, phần quy định về kiến trúc đô thị thì:             

“Từ tầng hai trở lên, trên các bức tường cách ranh giới đất với công trình bên cạnh không được mở cửa đi, cửa sổ, lỗ thông hơi (chỉ được mở các cửa đi, cửa sổ, lỗ thông hơi trên các bức tường cách ranh giới đất với nhà bên cạnh ít nhất 2 m). Khi mở cửa cần có biện pháp tránh tia nhìn trực tiếp vào nội thất nhà bên cạnh. Mép ngoài cùng của ban công trông sang nhà hàng xóm phải cách ranh giới đất giữa hai nhà ít nhất là 2m.”

Điểm 3, khoản 7.12.2, Điều 7.12 còn nêu: “Trong trường hợp có thỏa thuận được mở cửa thì trên bức tường xây cách ranh giới đất dưới 2 m có thể được mở các lỗ cửa nhưng phải đề phòng trường hợp lửa cháy lan giữa hai nhà Các lỗ cửa này phải là cửa cố định (chớp lật hoặc lắp chết kính) có mép dưới cao hơn mặt sàn ít nhất 2 m. Khi thỏa thuận bị hủy bỏ, việc bít các lỗ cửa này là mặc nhiên, không phải thương lượng, xét xử”.

Mặt khác, theo Tiêu chuẩn thiết kế nhà ở riêng lẻ 9411 năm 2012, cụ thể tại mục 6.4.3 quy định: “Không được phép mở cửa đi, cửa sổ, cửa thông gió nếu tường nhà xây sát với ranh giới lô đất hoặc ranh giới nền nhà thuộc quyền sử dụng của người khác. Chỉ được phép mở cửa đi, cửa sổ, lỗ thông hơi nếu tường xây cách ranh giới lô đất, ranh giới nền nhà bên cạnh từ 2,0 m trở lên.”

Theo thông tin bạn cung cấp, sân phơi nhà bạn giáp với nhà ông Hiếu. Ngoài ra , bạn không cung cấp về kết cấu, đặc điểm khác của công trình liên quan đến việc trổ cửa (của đi, cửa sổ, cửa thông gió) nên không thể trả lời chính xác hơn cho bạn. Bạn căn cứ vào các quy định mà tôi đã viện dẫn trên để áp dụng xem mình có vi phạm một trong những quy chuẩn xây dựng này hay không? Nếu công trình xây dựng của bạn không vi phạm các quy chuẩn về xây dựng thì người hàng xóm này không có quyền yêu cầu bạn thay đổi công trình xây dựng của bạn đang tồn tại.

2. Về vấn đề giấy phép xây dựng, các công trình được miễn giấy phép xây dựng được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 89 luật xây dựng 2014. Đối với công trình xây dựng ở nông thôn thuộc khu vực chưa có quy hoạch phát triển đô thị và quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt; nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, trừ nhà ở riêng lẻ xây dựng trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử – văn hóa thuộc một trong những trường hợp được miễn giấy phép xây dựng (điểm k khoản 2 Điều 89 luật xây dựng 2014).

Nếu việc xây dựng của bạn thuộc trường hợp này (nhà ở riêng lẽ ở nông thôn) thì bạn không cần phải có giấy phép xây dựng, việc xây dựng của bạn không trái quy định pháp luật.

Trân trọng.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)
 
Số tin trên trang:
Trang:[1]2345678910...
Văn bản mới
Nghĩ và viết
Nghề Luật Sư.

Nghề luật sư được cho là tiêu biểu nhất và thể hiện đầy đủ nhất những đặc trưng của nghề luật. Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì người luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Luật sư là những người được trọng vọng trong xã hội bởi họ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền cơ bản của công dân và phát triển xã hội.Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Nếu hiểu nghề luật như là nghề kiếm sống có liên quan đến luật, có thể kể ra nhiều công việc khác cũng được gọi là nghề luật như: chấp hành viên, điều tra viên, giám định viên, chuyên viên pháp lý, cố vấn pháp lý, giáo viên dạy luật, cán bộ nghiên cứu pháp luật… trong các cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan công an, cơ quan hành chính Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp, trường học, viện nghiên cứu… . Ở nghĩa rộng, chúng ta thấy nghề luật thật phong phú và đa dạng  trong xã hội

 

Thông tin hoạt động
Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của HUELAW

. Đối với chúng tôi hiểu biết một cách sâu sắc về khách hàng chính là điều quan trọng để đi đến thành công. Sự đồng cảm và hiểu biết lẫn nhau là cơ sở để có một bản ý kiến tư vấn thật sự có giá trị cũng như cung cấp dịch vụ pháp lý một cách tốt nhất nhằm đem lại những giải pháp tối ưu theo đúng yêu cầu của khách hàng. HUELAW chú trọng xây dựng quan hệ cá nhân của từng thành viên đối với khách hàng, đảm bảo tư vấn đúng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tốt nhất chính là thành công của chúng tôi. Đến với HUELAW quý khách hàng sẽ nhận được sự trợ giúp về mặt pháp lý một cách nhanh chóng, chính xác, hiệu quả