Số lượt truy cập
  Tổng truy cập 5784358
  Hiện tại có 32 khách
Tìm kiếm thông tin
Tin mới
Chữ Việt song song: Sáng tạo đáng nể hay rắc rối, 'đọc trẹo cả mồm'?
Quy định về xử phạt các vi phạm liên quan đến phòng, chống dịch COVID-19 của một số quốc gia và Việt Nam
Mẫu Thông báo giải thể doanh nghiệp theo Thông tư 02/2019/TT-BKHĐT
Bắt quả tang trưởng ban tạp chí điện tử Hòa Nhập nhận 300 triệu của doanh nghiệp
Trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội gói hỗ trợ 62.000 tỉ giúp người nghèo chống dịch COVID-19
Cách ly toàn xã hội từ 0 giờ 1/4 trên phạm vi toàn quốc
Tòa án Tối cao hướng dẫn xử nhiều tội về COVID-19
Giá xăng giảm mạnh chưa từng có - hơn 4.000 đồng/lít
Mẫu Sơ yếu lý lịch cán bộ, công chức mới nhất và hướng dẫn cách điền
Tòa giữ hồ sơ, viện không thể kháng nghị
Chọn vấn đề :
 
TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG ĐẶT CỌC
Hỏi:
Tôi là Nguyễn Thị H, có hộ khẩu thường trú tại đường X, phường XH, thành phố H, tỉnh TTH.Thông qua môi giới là bà Lê Thị K,ngày 01/12/2019 vợ chồng tôi có ký hợp đồng đặt cọc với vợ chồng ông Bùi Văn C một khoản tiền là 800.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với thông tin như sau: Thửa đất số 01, tờ bản đồ 12, diện tích: 120m2. Giá trị chuyển nhượng là 2.000.000.000 đồng. Hợp đồng đặt cọc không có công chứng, chứng thực. Ngày 15/12/2019, hai bên ra ký hợp đồng chuyển nhượng tại Phòng Công chứng số 01 tỉnh TTH, lúc này vợ chồng ông C mới nói bên cạnh thửa đất có một trụ điện, nhưng lúc bà K dẫn vợ chồng tôi đi xem đất thì không có trụ điện. Tôi đã yêu cầu vợ chồng ông C dẫn đi coi đất lại.Lúc đó mới phát hiện ra lô đất của ông C là không đúng với lô đất mà lần trước mà bà K đã chỉ cho tôi, lô đất này cách lô đất lần trước 1-2 lô. Do lô đất không nằm ở vị trí mà vợ chồng tôi mong muốn nên khi trở lại phòng công chứng thì tôi không đồng ý mua nữa.Và bà K cũng xác nhận là do bà nhớ nhầm nên chỉ sai lô đất. Tuy nhiên, phía ông C không đồng ý trả cọc cho tôi với lý do là phía ông C không vi phạm hợp đồng đặt cọc vì vẫn muốn chuyển nhượng lô đất trong Giấy chứng nhận cho tôi và nói rằng nếu tôi không thực hiện ký kết hợp đồng chuyển nhượng thì sẽ mất cọc. Tôi muốn hỏi luật sư: Hợp đồng đặt cọc không có công chứng, chứng thực có hiệu lực pháp luật không? Tôi phải làm gì để đòi lại tiền cọc nêu trên? Tôi xin cám ơn.
Người gửi: Minhle@gmail.com - Thành phố Huế (Ngày gửi: 30/03/2020)
Đáp:
 

Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

1. Về hiệu lực pháp luật của hợp đồng đặt cọc

Theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự 2015:

1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Và tại Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”

Đối chiếu với các quy định trên thì hợp đồng đặt cọc là một biện pháp bảo đảm để thực hiện hợp đồng hoặc đảm bảo giao kết hợp đồng vì nó có giá trị đến khi mục đích đặt cọc chấm dứt tức là khi giao kết hoàn thành hoặc đã thực hiện xong hợp đồng. Đồng thời, pháp luật cũng không yêu cầu hợp đồng đặt cọc phải công chứng, chứng thực nên việc ký kết hợp đồng đặt cọc của vợ chồng bạn với phía ông C không có công chứng, chứng thực vẫn có hiệu lực pháp luật.

2. Về việc đòi lại số tiền đã đặt cọc.

Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015:

“Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.”

Tại  Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”

Và tại Điều 126 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

“1. Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên không thể khắc phục ngay được sự nhẫm lẫn làm cho mục đích việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được”.

Trong trường hợp này hợp đồng đặt cọc giữa vợ chồng bạn với phía ông Bùi Văn C có sự nhầm lẫn trong việc xác định vị trí thửa đất. Do chị K đã chỉ nhầm vị trí thửa đất nên vợ chồng bạn mới thực hiện việc giao kết hợp đồng đặt cọc này. Sau khi biết được vị trị thật sự của thửa đất nhưng vì vị trí của thửa đất không như mong muốn của vợ chồng bạn thì vợ chồng bạn có quyền không giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này nữa.

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015:

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.”

Đối chiếu với các quy định pháp luật trên, để đòi lại số tiền đã đặt cọc thì vợ chồng bạn phải khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đặt cọc trên vô hiệu. Khi hợp đồng bị vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao kết hợp đồng. Đồng thời, phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, tức là phía ông Bùi Văn C phải hoàn trả cho bạn số tiền đã nhận đặt cọc.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).

THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỨNG TÊN HỘ GIA ĐÌNH
Hỏi:
Cha mẹ tôi là ông Nguyễn Minh A và bà Đỗ Thị T. Kết hôn năm 1990, có đăng ký tại UBND phường X, thành phố H, tỉnh TTH.Năm 2015, UBND thành phố H có cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtcho hộ gia đình tôi, đứng tên chủ hộ là ông Nguyễn Minh A với thông tin thửa đất như sau: thửa đất số 39, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại địa chỉ số 12 đường NT, phường X, thành phố H, tỉnh TTH.Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình tôi chỉ có 04 thành viên: cha mẹ tôi, tôi và em trai tôi. Ông bà nội tôi cũng đã mất từ lúc tôi còn nhỏ. Đến năm 2018, cha tôi mất, không để lại di chúc.Nay, mẹ tôi và em trai tôi muốn cho tôi toàn quyền sử dụng đối với thửa đất trên. Tôi muốn hỏi luật sư: Tôi cần thực hiện những thủ tục gì để được đứng tên tôi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên? Và tôi phải chịu những loại thuế gì khi thực hiện các thủ tục đó? Tôi xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: Nguyễn Hòa - Quảng Bình (Ngày gửi: 30/03/2020)
Đáp:
 Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

Theo khoản 29 Điều 3 Luật đất đai 2013:

“Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.”

Đối chiếu với quy định trên, đất đai cấp cho hộ gia đình thì tất tả các thành viên có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và đang sống chung với nhau tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có quyền ngang nhau trong sử dụng quyền sử dụng đất nêu trên. Tức là cha mẹ bạn, bạn và em trai của bạn là đồng sử dụng chung đối với quyền sử dụng đất nêu trên.

Sau khi cha của bạn chết, phần di sản mà cha bạn để lại là một phần tư quyền sử dụng đất trong khối tài sản chung với mẹ bạn, em trai bạn và bạn. Để thừa kế quyền sử dụng đất nêu trên thì các đồng thừa kế phải tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

Do cha bạn chết không để lại di chúc, nên phần di sản đó sẽ được chia theo pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015:

“1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Tại điểm a, khoản 1, Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”

Như vậy, do ông bà nội của bạn đã chết trước cha bạn, nên hàng thừa kế thứ nhất của cha bạn chỉ gồm: mẹ bạn, em bạn và bạn.

Theo quy định tại Điều 57 Luật công chứng 2014:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản.

Trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản, người được hưởng di sản có thể tặng cho toàn bộ hoặc một phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế khác.”

Do mẹ và em trai bạn muốn tặng cho quyền sử dụng đất được thừa kế lại cho bạn nên áp dụng quy định pháp luật trên thì mẹ và em trai bạn có thể thỏa thuận trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản về việc tặng do toàn bộ phần di sản được hưởng lại cho bạn.

Tiếp theo, mẹ và em bạn tiếp tục làm thủ tục tặng cho phần quyền sử dụng đất trong phần tài sản chung của hộ gia đình trên lại cho bạn. Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất bạn có thể làm tại UBND phường X hoặc một trong phòng công chứng trong tỉnh TTH (theo quy định tại khoản 3 Luật đất đai 2013).

Về thuế và lệ phí khi thực hiện các thủ tục trên gồm:

*Thuế thu nhập cá nhân:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Thu nhập cá nhân 2007:

“4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau.”

*Lệ phí trước bạ:

Theo quy định tại khoản 10 Điều 9 Nghị định số 140/2016/NĐ-CP về lệ phí trước bạ:

10. Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: Vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Đối chiếu với quy định trên, việc bạn nhận thừa kế quyền sử dụng đất từ cha và nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ mẹ và em bạn thuộc trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân và lệ phí trước bạ.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).
 
BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Hỏi:
Tôi là Nguyễn Thị T, có hộ khẩu thường trú tại số 03 đường N, phường PN, thành phố H, tỉnh TTH. Tôi và anh Lê Văn A kết hôn năm 2010. Đến năm 2015, giữa anh A và tôi có nhiều mâu thuẫn, anh A thường xuyên đánh đánh đập, chửi bới thậm tệ tôi. Gần đây nhất, tôi đòi ly hôn thì anh đã dùng ghế đánh vào đầu, khiến tôi phải nhập viện để điều trị. Nhiều lần anh A còn tìm đến chỗ làm của tôi để gây rối, chửi bới, làm nhục tôi trước mặt nhiều người. Tôi muốn hỏi luật sư: Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết những hành vi bạo lực gia đình của anh A?Và anh A sẽ bị xử phạt như thế nào?
Người gửi: ThuLe - Thành phố Huế (Ngày gửi: 26/03/2020)
Đáp:
 Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

1. Về thẩm quyền giải quyết bạo lực gia đình

Theo quy định pháp luật thì các hành vi bạo lực gia đình gồm (Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007):

- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;

- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.

- Cưỡng ép quan hệ tình dục;

- Cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tư nguyện, tiến bộ;

- Chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên trong gia đình;

- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

Tại khoản 1 Điều 18 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định:

“Người phát hiện bạo lực gia đình phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 23 và khoản 4 Điều 29 của Luật này.”

Tại Điều 5 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định:

“1. Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;

b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;

c) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;

d) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;

đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu.”

Đối chiếu với các quy định trên, khi anh A có hành vi dùng bạo lực đối với chị thì chị quyền trình báo đến cơ quan công an gần nhất hoặc ủy ban nhân dân cấp xã nơi anh chị đang sinh sống và yêu cầu các cơ quan này xử lý hành vi trái pháp luật của chồng chị.

Bên cạnh đó, chị có thể liên hệ với các tổ chức xã hội như cơ sở hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình, hội phụ nữ trên địa bàn chị sinh sống để được tư vấn, hỗ trợ khi chị bị bạo lực gia đình.

2. Về mức xử phạt đối với hành vi bạo lực gia đình

Tại Điều 49 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định:

Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

Tại Điều 51 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

Điều 51. Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

b) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;

c) Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;

b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi quy định tại Điểm a, c Khoản 2 Điều này.”

Nếu hành vi bạo lực gia đình có tính chất nghiêm trọng, cấu thành tội phạm và có thể bị xử lý hình sự về Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình theo quy định tại Điều 185 Bộ luật hình sự 2015:

1. Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.”

Đối chiếu với các quy định nêu trên, nếu chồng chị có những hành vi xâm hại đến sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của chị thì căn cứ theo tính chất, mức độ vi phạm thì chồng chị có thể bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi làm đơn tố cáo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì chị phải thu thập các chứng cứ về hành vi bạo lực của chồng chị để chứng minh cho sự việc.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).
 
THỪA KẾ ĐẤT ĐAI CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Hỏi:

Tôi là Nguyễn Văn A, hộ khẩu tại số 01 đường TH, phường PH, thành phố H, tỉnh TTH. Cha mẹ tôi có hai người con là tôi và em gái tôi là Nguyễn Thị T. Năm 2010, cha mẹ tôi viết di chúc chung để lại tài sản cho anh em chúng tôi.Nội dung di chúc là để lại cho tôi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 01, tờ bản đồ số 19 tọa lạc tại địa chỉ số 13 đường BT, phường PH, thành phố H, tỉnh TTH và để lại cho em gái tôi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 56 tờ bản đổ 41 tọa lạc tại địa chỉ 66 đường NH, phường VN, thành phố H, tỉnh TTH. Năm 2011 thì cha tôi mất và đến năm 2015 thì mẹ tôi mất.Tuy nhiên, tôi đã qua Úc sống hơn 15 năm nay, đã nhập quốc tịch Úc và không còn quốc tịch Việt Nam. Như vậy, tôi muốn hỏi luật sư: Di chúc mà cha mẹ tôi viết tay có giá trị pháp lý không? Bây giờ, tôi không còn quốc tịch Việt Nam thì có được đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất do được thừa kế không? Trường hợp nếu tôi không được đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì tôi có quyền chuyển nhượng cho người khác không? Tôi xin cám ơn.

Người gửi: Minh Hoa - Thành phố Huế (Ngày gửi: 26/03/2020)
Đáp:
 

Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành và chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

1. Về giá trị pháp lý của di chúc

Do tại thời điểm mà cha mẹ bạn lập di chúc là năm 2010 nên áp dụng Bộ luật Dân sự 2005 để giải quyết. Theo quy định tại Điều 646 Bộ luật dân sự 2005:

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”

Về hình thức di chúc được quy định tại Điều 649 Bộ luật dân sự 2005:

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.”

Đối với trường hợp di chúc chỉ được viết tay, không được công chứng, chứng thực thì cần phải đáp ứng đủ các điều kiện (Điều 652 Bộ luật dân sự 2005):

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép;

- Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái với quy định pháp luật.

Về nội dung của di chúc phải ghi rõ:

- Ngày, tháng, năm lập di chúc;

- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

- Di sản để lại và nơi có di sản;

- Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Đối chiếu với các quy định trên, nếu di chúc của cha mẹ bạn không được công chứng, chứng thực nhưngđáp ứng đủ các điều kiện trên thìdi chúc có giá trị pháp lý. Do cha mẹ bạn lập di chúc chung của hai vợ chồng nên di chúc này sẽ có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết tức là di chúc này sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm mẹ bạn chết (theo quy định tại Điều 668 Bộ luật dân sự 2005).

2. Về quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của người nước ngoài khi nhận thừa kế tại Việt Nam

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014:

Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam.”

Tại khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai 2013:

“3. Trường hợp tất cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều này thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng được chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế theo quy định sau đây:

a) Trong trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế được đứng tên là bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

b) Trong trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất thì người được tặng cho phải là đối tượng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 179 của Luật này và phù hợp với quy định của pháp luật về nhà ở, trong đó người nhận thừa kế được đứng tên là bên tặng cho trong hợp đồng hoặc văn bản cam kết tặng cho;

c) Trong trường hợp chưa chuyển nhượng hoặc chưa tặng cho quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế hoặc người đại diện có văn bản ủy quyền theo quy định nộp hồ sơ về việc nhận thừa kế tại cơ quan đăng ký đất đai để cập nhật vào Sổ địa chính.

Đối chiếu với các quy định trên, vì do bạn là người nước ngoài được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Việt Nam nên bạn sẽ không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Tuy nhiên, bạn vẫn được quyền đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để làm thủ tục chuyển nhượng cho người khác.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).

Quyền lợi được hưởng khi bị tai nạn lao động.
Hỏi:
Anh trai tôi là Nguyễn Văn T, có hộ khẩu thường trú tại 11 đường NH, phường PH, thành phố H, tỉnh TTH. Anh là công nhân của Công ty TNHH Thương mại & Dịch vụHP (sau đây gọi là công ty HP) – công ty chuyên cung ứng dịch vụ, vật tư ngành vệ sinh làm sạch công nghiệp.Năm 2019, khi được phân công làm vệ sinh tại khu công nghiệp PB, tỉnh TTH, anh tôi đã bị ngã vào hầm axit khiến cơ thể bỏng nặng khoảng 80%. Sau đó, anh tôi được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Trung ương H, tỉnh TTH. Được biết, lúc bị ngã vào hầm axit thì đã hết giờ làm việc theo quy định công ty nhưng anh tôi được quản lý công ty nhờ làm thêm giờ.Công ty HP có hỗ trợ 20% chi phí điều trị cho anh tôi. Tôi muốn hỏiLuật sư: Việc công ty HP hỗ trợ 20% chi phí điều trị cho anh tôi là đã đúng theo quy định pháp luật chưa? Ngoài ra, anh tôi có được hưởng quyền lợi gì khác không ?
Người gửi: Vân Anh - Quảng Bình (Ngày gửi: 12/03/2020)
Đáp:
 

Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành và chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015:

“8. Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.”

Tại Điều 144 Bộ luật Lao động 2012:

Điều 144. Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

2. Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

3. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này.”

Và tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Lao động 2012:

Điều 145. Quyền của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.”

Tuy nhiên, để được hưởng chế độ tai nạn lao động thì anh của bạn phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 45 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015:

- Nằm một trong các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015;

- Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn lao động;

- Bị tai nạn lao động mà nguyên nhân không thuộc vào một trong các nguyên nhân quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật an toàn vệ sinh lao động 2015.

Đối với việcxác định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động của anh bạn thì cần phải dựa trên Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động do Hội đồng giám định y khoa thực hiện.

Như vậy, trường hợp xác định anh Nguyễn Văn T là người lao động bị tai nạn lao động trong quá trình thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động, mà trong hợp đồng lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc thì công ty HP, tổ chức Bảo hiểm xã hội và tổ chức Bảo hiểm y tế có trách nhiệm giải quyết các quyền lợi cho anh của bạn theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau:

1. Trách nhiệm của công ty HP (Điều 144 Bộ luật Lao động 2012).

- Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế.

- Trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị.

- Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật Lao động.

Trường hợp anh của bạn bị tai nạn lao động nhưng trong quá trình thực hiện công việc, nhiệm vụ theo hợp đồng lao động với công ty HP nhưng không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc cho người lao động thì công ty HP có các trách nhiệm sau (khoản 2 Điều 5 Nghị định 44/2013/NĐ-CP):

- Thanh toán chi phí từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 144 Bộ luật lao động 2012;

- Trả đủ tiền lương theo hợp động lao động cho người lao động bị tai nạn lao động phải nghỉ việc trong thời gian điều trị;

- Bồi thường hoặc trợ cấp cho người lao động theo quy định tại khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 145 Bộ luật lao động 2012;

- Thông báo bằng văn bản cho người sử dụng lao động của các hợp đồng lao động còn lại biết về tình trạng sức khỏe của người lao động.

Bên cạnh đó, theo quy định pháp luật thì công ty HP không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với anh của bạn trong thời gian điều trị, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động 2012. Khi sức khỏe của anh bạnbình phục thì anh của bạn và công ty HP có thể thỏa thuận tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động hoặc sửa đổi, bổ sung nội dung hợp đồng lao động hoặc chấm dứt hợp động lao đồng đã giao kết theo quy định pháp luật.

2. Trách nhiệm của cơ quan Bảo hiểm Xã hội

Trường hợp đáp ứng đủ các điều kiện để được hưởng chế độ tai nạn lao động thì anhcủa bạn có thể được hưởng chế độ trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hàng tháng theo quy định tại Điều 48, Điều 49 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 tùy thuộc vào tỷ lệ suy giảm khả năng lao động:

Điều 48. Trợ cấp một lần

“1. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ cấp một lần.

2. Mức trợ cấp một lần được quy định như sau:

a) Suy giảm 5% khả năng lao động thì được hưởng năm lần mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở;

b) Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, từ một năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được tính thêm 0,3 tháng tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị tai nạn lao động hoặc được xác định mắc bệnh nghề nghiệp; trường hợp bị tai nạn lao động ngay trong tháng đầu tham gia đóng vào quỹ hoặc có thời gian tham gia gián đoạn sau đó trở lại làm việc thì tiền lương làm căn cứ tính khoản trợ cấp này là tiền lương của chính tháng đó.

3. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết việc tính hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong trường hợp người lao động thay đổi mức hưởng trợ cấp do giám định lại, giám định tổng hợp.

Điều 49. Trợ cấp hằng tháng

“1. Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng.

2. Mức trợ cấp hằng tháng được quy định như sau:

a) Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở;

b) Ngoài mức trợ cấp quy định tại điểm a khoản này, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng vào quỹ được tính thêm 0,3% mức tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng bị tai nạn lao động hoặc được xác định mắc bệnh nghề nghiệp; trường hợp bị tai nạn lao động ngay trong tháng đầu tham gia đóng vào quỹ hoặc có thời gian tham gia gián đoạn sau đó trở lại làm việc thì tiền lương làm căn cứ tính khoản trợ cấp này là tiền lương của chính tháng đó.”

3.Trách nhiệm của cơ quan Bảo hiểm y tế

Theo quy định tại khoản 6 Điều 1 Luật Bảo hiểm y tế sửa 2014:

“Điều 12. Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế

1. Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, bao gồm:

a) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung là người lao động);

Tại khoản 15 Điều 1 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi 2014:

Điều 22. Mức hưởng bảo hiểm y tế

1. Người tham gia bảo hiểm y tế khi đi khám bệnh, bữa bệnh theo quy định tại các điều 26, 27 và 28 của Luật này thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng với mức hưởng như sau:

a) 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với đối tượng quy định tại các điểm a, d, e, g, h và i khoản 3 Điều 12 của Luật này. Chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phạm vi được hưởng bảo hiểm y tế của đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 12 của Luật này được chi trả từ nguồn kinh phí bảo hiểm y tế dành cho khám bệnh, chữa bệnh của nhóm đối tượng này; trường hợp nguồn kinh phí này không đủ thì do ngân sách nhà nước bảo đảm;

b) 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn mức do Chính phủ quy định và khám bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã;

c) 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến;

d) 95% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với đối tượng quy định tại điểm a khoản 2, điểm k khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 12 của Luật này;

đ) 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với các đối tượng khác.

Đối chiếu với các quy định trên, trường hợp anh của bạn thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, do đó khi bị tai nạn lao động, anh của bạn chỉ cần xuất trình thẻ Bảo hiểm y tế cùng với các giấy tờ tùy thân để được hỗ trợ 80% chi phí khám chữa bệnh theo quy định. Các chi phí khám chữa bệnh còn lại không được chi trả do không nằm trong danh mục bảo hiểm y tế chi trả thì sẽ được người sử dụng lao động thanh toán (điểm a, khoản 2 Điều 38 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015).

Do đó, việc anh của bạn được công ty HP hỗ trợ 20% chi phí điều trị là phù hợp với quy định pháp luật.

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC NHẬN NUÔI CON NUÔI TRONG NƯỚC
Hỏi:
Vợ, chồng tôi là Đỗ Văn A và Lê Ngọc X có hộ khẩu thường trú tại số 01 đường NH, phường PH, thành phố H, tỉnh TTH. Nay, vợ chồng tôi muốn nhận một đứa bé khoảng 04 tuổi làm con nuôi, đứa bé đang thường trú tại thôn BV, thị xã BV, tỉnh TTH. Tôi muốn hỏi Luật sư: Vợ, chồng tôi cần đáp ứng các điều kiện gì để được nhận đứa bé làm con nuôi và trình tự, thủ tục để nhận nuôi con nuôi như thế nào?
Người gửi: Vân Anh - Quảng Bình (Ngày gửi: 29/02/2020)
Đáp:  
 

 

Nội dung

Căn cứ

Điều kiện

1. Người nhận con nuôi:

+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

+ Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

+ Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

+ Có tư cách đạo đức tốt.

Trường hợp:Cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng điều kiện là hơn con nuôi 20 tuổi trở lên và có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi.

Hạn chế: Cá nhân thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không được nhận nuôi con nuôi, bao gồm:

- Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

- Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

- Đang chấp hành hình phạt tù;

- Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

2. Người được nhận làm con nuôi

+ Trẻ em dưới 16 tuổi.

+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

+ Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

Điều 8, 14 Luật nuôi con nuôi 2010.

Trình tự thực hiện

– Bước 1: Người nhận con nuôi nộp hồ sơ trực tiếp (hồ sơ của mình và của người được nhận làm con nuôi) tại Bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ của Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn nơi người được nhận làm con nuôi thường trú (đối với trường hợp thông thường) hoặc tại Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn nơi người nhận nuôi con thường trú (nếu là cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi hoặc có sự thỏa thuận giữa người nhận con nuôi với cha mẹ đẻ, người giám hộ của người được nhận làm con nuôi).

– Bước 2: Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính hợp lệ và đầy đủ của các giấy tờ có trong hồ sơ:

+ Trường hợp hồ sơ hợp lệ và đầy đủ theo quy định thì cấp Biên nhận hồ sơ;

+ Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ, công chức được phân công tiếp nhận hướng dẫn bằng văn bản cho người nộp hồ sơ bổ sung và hoàn thiện hồ sơ theo quy định.

– Bước 3: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn lấy ý kiến của đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó. Việc lấy ý kiến phải lập thành văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến.

Khi xét thấy người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật nuôi con nuôi, thì Công chức Tư pháp-Hộ tịch đề nghị Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn xem xét, quyết định.

– Bước 4: Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Công chức Tư pháp-Hộ tịch, Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch. Trường hợp từ chối, thông báo bằng văn bản, có nêu rõ lý do.

- Điều 19, 20, 21, 22 Luật Nuôi con nuôi 2010.

- Điều 1 Nghị định số24/2019/NĐ-CP.

Thành phần hồ sơ

1.Hồ sơ của người xin nhận con nuôi:

+ Đơn xin nhận con nuôi;

+ Bản sao có chứng thực hoặc bản photo kèm bản chính để đối chiếu Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;

+ Bản chính Phiếu lý lịch tư pháp (được cấp chưa quá 06 tháng);

+ Bản chính văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân (Bản sao nếu là giấy chứng nhận kết hôn hoặc bản gốc nếu là giấy xác nhận tình trạng hôn nhân);

+ Bản chính Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp (được cấp chưa quá 06 tháng);

+ Bản chính văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp (được cấp chưa quá 06 tháng).

* Trường hợp: Cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không cần Giấy khám sức khỏe và Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế.

2.Hồ sơ của trẻ em được cho làm con nuôi:

+ Bản sao hoặc bản photo kèm bản chính để đối chiếu Giấy khai sinh;

+ Bản sao hoặc bản chính Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;

+ 02 tấm ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;

+ Bản sao hoặc bản photo kèm bản chính để đối chiếu Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;

+ Bản sao hoặc bản photo kèm bản chính để đối chiếu Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.

- Điều 17, 18 Luật Nuôi con nuôi 2010.

- Điều 5 và Điều 7 Nghị định 19/2011/NĐ-CP

Thời hạn

 giải quyết

- Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Điều 19 Luật Nuôi con nuôi 2010.

Cơ quan

giải quyết

- . Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước.

- Điều 9 Luật Nuôi con nuôi 2010.

Mẫu đơn, mẫu tờ khai

- Đơn xin nhận con nuôi (mẫu TP/CN-2014/CN.02)

- Tờ khai hoàn cảnh gia đình của người nhận nuôi (mẫu TP/CN-2011/CN.06)

- Thông tư số 24/2014/TT-BTP.

 

  Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON.
Hỏi:
Tôi là Nguyễn Văn H có hộ khẩu thường trú tại đường số 1, phường HCN, quận HN, thành phố ĐN và vợ tôi là chị Lê Thị A, có hộ khẩu thường trú tại thôn BV, xã HV, thị xã HT, tỉnh TTH. Năm 2019,chúng tôi có tổ chức đám cưới, nhưng không đăng ký kết hôn. Đến tháng 11/2019, chúng tôi sinh được một bé trai, nhưng tôi không thể làm giấy khai sinh cho đứa bé đứng tên cha là Nguyễn Văn H được. Vì năm 2008, vợ tôi đã đăng ký kết hônvới anh Nguyễn B- là một người Việt kiều Mỹtại Sở tư pháp tỉnh TTH. Hơn 10 năm nay, do anh B không có liên lạc gì về Việt Nam, nên vợ tôi chưa làm thủ tục ly hôn với anh B được. Nay tôi muốn hỏi luật sư:Tôi muốn làm thủ tục nhận con ruột của mình làm con nuôi để đứng tên tôi trong giấy khai sinh của đứa bé được không?Có cách nào khác đểpháp luật thừa nhận đứa bé là con đẻ của tôi không?
Người gửi: Minh Hoa - Thành phố Huế (Ngày gửi: 29/02/2020)
Đáp:
 

Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do anh cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành và chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

1. Về việc nhận nuôi con nuôi

Tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

Điều 88. Xác định cha, mẹ

1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.”

Đối chiếu với quy định trên, mặc dù đứa bé là con đẻ của anh nhưng dođứa bé được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của chị Lê Thị A và anh Nguyễn Bnên đứa bé là con chung của vợ chồng hợp pháp. Do đó, về mặt pháp lý thì đứa bé vẫn là con chung của chị A và anh B.

Việc anh muốn nhận con đẻ của mình làm con nuôi để được đứng tên của mình trong giấy khai sinh của cháu thì pháp luật không cấm. Tuy nhiên, anh phải đáp ứng đủ các điều kiện về nhận con nuôi theo quy định tại Điều 14 của Luật Nuôi con nuôi 2010.

Điều 14. Điều kiện đối với người nhận con nuôi

1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

d) Có tư cách đạo đức tốt.

2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 điều này.

Bên cạnh đó, việc nhận con nuôi cần phải có sự đồng ý của cha mẹ đứa bé theo quy định tại khoản 1 Điều 21 của Luật Nuôi con nuôi 2010.

Điều 21. Sự đồng ý cho làm con nuôi

1. Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.”

Do đó, đối với trường hợp của anh thì ngoài đáp ứng các điều kiện, anh cần phải có sự đồng ý của chị A và anh B thì mới có thể làm thủ tục nhận con nuôi được.

2. Về việc xác định con cho cha.

*Trường hợp 1:Không có tranh chấp - chị Lê Thị A và anh Nguyễn B đều đồng ý công nhận đứa bé là con đẻ của anh.

Theo quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:

Điều 29. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

10. Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.”

Tại khoản 1 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 101. Thẩm quyền giải quyết xác định cha, mẹ, con

1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.”

Như vậy, trường hợp chị Lê Thị A và anh Nguyễn B là cha mẹ hợp pháp của đứa bé đều thừa nhận đứa bé là con đẻ của anh và không có tranh chấp gì thì anh có thể làm thủ tục đăng ký nhận cha, con tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi anh cư trú hoặc nơi đứa bé cư trú (theo quy định tại Điều 24 Luật Hộ tịch 2014).

Theo đó, anh cầnnộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Sau thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc nhận cha, con là đúng và không có tranh chấp thì công chức tư pháp – hộ tịch và anh sẽ cùng ký vào sổ hộ tịch và báo cáo ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho anh.

*Trường hợp 2:Có tranh chấp - chị Lê Thị A hoặc anh Nguyễn B không công nhận đứa bé là con đẻ của anh.

Trường hợp chị Lê Thị A hoặc anh Nguyễn B không thừa nhận đứa bé là con đẻ của anh thì anh có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án công nhậncha, con cho anh.

Theo quy định pháp luật:

Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

3. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.”

Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;”

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;”.

Đối chiếu với các quy định trên, Tòa án nhân dân thị xã HT, tỉnh TTHsẽ có thẩm quyền giải quyết vụ án của anh. Nếu quyết định của Tòa án công nhận đứa bé là con đẻ của anh thì căn cứ vào bản án có hiệu lực pháp luật anh có thểlàm thủ tục ghi tên của anh trên giấy khai sinh của đứa bé

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

Bị tai nạn trên đường đi làm có được hưởng chế độ tai nạn lao động không?
Hỏi:
Thưa luật sư, anh trai tôi là công nhân làm việc cho một công ty, có tham gia bảo hiểm tai nạn lao động đầy đủ, vừa quakhi trên đường đi làm đã bị tai nạn giao thông. Vậy cho tôi hỏi trong trường hợp này thì anh tôi có được hưởng chế độ tai nạn lao động không?
Người gửi: Minhle@gmail.com - Quảng Bình (Ngày gửi: 03/05/2019)
Đáp:
 

Đáp:

Khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 có quy định về Tai nạn lao động như sau:

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

……

8. Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

…..”

Theo đó Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định Điều kiện để được hưởng chế độ tai nạn lao động là:

Điều 45. Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động

Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh;

b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;

c) Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này;

3. Người lao động không được hưởng chế độ do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi trả nếu thuộc một trong các nguyên nhân quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Mặt khác, Khoản 1 Điều 40 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định các trường hợp người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị tai nạn lao động như sau:

Điều 40. Trường hợp người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị tai nạn lao động

1. Người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động quy định tại Điều 38 và Điều 39 của Luật này nếu bị tai nạn thuộc một trong các nguyên nhân sau:

a) Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;

b) Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân;

c) Do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.

….”

Như vậy, từ những quy định trên, anh của bạn có thể được hưởng chế độ tai nạn lao động nếu bị tai nạn trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở nhưng phải đảm bảo những yếu tố về thời gian và tuyến đường nhất định, bởi tại nạn lao động theo quy định về giải thích từ ngữ ở trên thì tại nạn lao động xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Đồng thời, tỷ lệ suy giảm khả năng lao động của anh bạn phải từ 5% trở lên do bị tai nạn và không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 40 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 nêu trên.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

Có được bán đất khi không có sự đồng ý của vợ hoặc chồng?
Hỏi:
Hỏi: Tôi có một mảnh đất chỉ đứng tên một mình tôi, nay tôi muốn bán nhưng vợ tôi không đồng ý, vậy cho tôi hỏi tôi có được bánmảnh đấtnày khi không có sự đồng ý của vợ không?
Người gửi: Hải Linh - Thành phố Huế (Ngày gửi: 22/04/2019)
Đáp:
 Bạn không nói rõ mảnh đất đó là tài sản riêng của bạn hay là tài sản chung của hai vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng trên giấy tờ chỉ đứng tên một mình người chồng là bạn, do đó có 2 trường hợp:

TRƯỜNG HỢP 1: Mảnh đất đó là tài sản riêng của bạn (có thể được hình thành trước hôn nhân hoặc trong thời kỳ hôn nhân).

Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Theo đó, Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng như sau:

“Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.”

 

Như vậy nếu đây là tài sản riêng của bạn thì khi bạn muốn bán mảnh đất này không cần phải có sự đồng ý của vợ bạn nếu hoa lợi, lợi tức từ mảnh đất này không phải là nguồn sống duy nhất của gia đình bạn. Còn nếu đây là tài sản riêng của bạn nhưnghoa lợi, lợi tức từ mảnh đất này là nguồn sống, chỗ ở duy nhất của gia đình bạn thì bạn cần được sự đồng ý của vợ bạn mới có thể bán mảnh đất này.

TRƯỜNG HỢP 2: Mảnh đất đó là tài sản chung của hai vợ chồng bạn.

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tài sản chung của vợ, chồng như sau:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Theo đó, Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung như sau:

“Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.”

Như vậy, nếu đây là tài sản chung của hai vợ chồng bạn, được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì khi bạn muốn bán mảnh đất này phải có sự đồng ý của người vợ.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Muốn được cấp thêm một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi mua đất đồng sở hữu có được không?
Hỏi:
Thưa luật sư, tôi và em gái tôi có mua chung một mảnh đất, đồng sở hữu mảnh đất đó Khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chỉ được cấp có một quyển. Vậy tôi muốn được cấp thêm một quyển nữa có được không?
Người gửi: Vân Anh - Thành phố Huế (Ngày gửi: 22/04/2019)
Đáp:
 Khoản 2 Điều 98 Luật đất đai 2013 của Quốc hội quy định về Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau:

Điều 98. Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

…..

2. Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện.

….”

Trong trường hợp của bạn, bạn và em gái của bạn cùng mua chung một mảnh đất, đồng sở hữu mảnh đất đó. Như vậy, theo quy định tại Khoản 2 Điều 98 Luật đất đai 2013 thì thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất,và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện. Do đó bạn có thể xin cấp thêm 1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nữa theo quy định của pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Có được tặng cho quyền sử dụng đất khi chưa có sổ đỏ không?
Hỏi:
Thưa luật sư, cho tôi hỏi bố mẹ tôi có một mảnh đất nhưng chưa có sổ đỏ. Bây giờ bố mẹ tôi muốn tặng cho tôi mảnh đất đó có được không?
Người gửi: Minhle@gmail.com - Quảng Bình (Ngày gửi: 22/04/2019)
Đáp:
 Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất như sau:

“Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng,cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại Khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, Góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy điịnh tại các điều 189, 190,191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”

Như vậy, theo quy định trên do mảnh đất của bố mẹ bạn hiện tại vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất (tức Sổ đỏ) do đó không thể tặng cho bạn mảnh đất trên được.

Để bạn được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp đối với mảnh đất trên thì bố mẹ bạn cần phải làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất đó theo quy định của pháp luật trước, sau đó mới làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng mảnh đất trên cho bạn.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất như sau:
 

“Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng,cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại Khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, Góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy điịnh tại các điều 189, 190,191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”

Như vậy, theo quy định trên do mảnh đất của bố mẹ bạn hiện tại vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất (tức Sổ đỏ) do đó không thể tặng cho bạn mảnh đất trên được.

Để bạn được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp đối với mảnh đất trên thì bố mẹ bạn cần phải làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất đó theo quy định của pháp luật trước, sau đó mới làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng mảnh đất trên cho bạn.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Có cần phải công chứng giấy tờ viết tay về việc mua bán xe ô tô không ?
Hỏi:
Thưa luật sư, hiện tại tôi có mua một chiếc xe ô tô chính chủ, vì chủ xe thua cá độ nên bán xe gấp do đó chỉ có giấy tờ mua bán viết tay giữa tôi và chủ xe. Vậy cho tôi hỏi, sau này nếu chủ xe đòi lại xe có được không? Giấy tờ mua bán xe này có cần phải đi công chứng hay không?
Người gửi: Vân Anh - Thành phố Huế (Ngày gửi: 25/03/2019)
Đáp:
 Việc mua bán xe ô tô giữa bạn và chủ xe là một giao dịch dân sự.

Điều 119 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hình thức giao dịch dân sự như sau:

“Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”

Theo đó, việc mua bán xe giữa bạn và chủ xe được quy định phải thể hiện bằng văn bản có công chứng hứng hoặc chứng thực theo điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA:

“g) Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực.”

Như vậy, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp này là giấy tờ bán xe phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thi trấn. Bạn mua xe nhưng chỉ làm giấy tờ viết tay mà không có công chứng, chứng thực, như vậy hợp đồng giao dịch dân sự này sẽ bị coi là vô hiệu do vi phạm về mặt hình thức thô quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự 2015:

"Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực."

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự 2015:

“Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.”

Tức là, trong trường hợp của bạn, khi mua bán xe chỉ làm giấy tờ viết tay mà không có công chứng, chứng thực nên giao dịch dân sự này vô hiệu (không có giá trị pháp lý).

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Bên thuê có được cho thuê lại nhà không?
Hỏi:
Thưa luật sư, tôi muốn thuê một căn nhà có nhiều phòng (4-5 phòng), tôi sẽ đầu tư cơ sở vật chất (bàn, ghế, bảng,…) rồi cho các thầy cô giáo thuê lại để dạy học có được không? Nếu được cho thuê như vậy tôi có cần phải đăng kí kinh doanh không?
Người gửi: ThuLe - Thành phố Huế (Ngày gửi: 19/03/2019)
Đáp:
 

Điều 472, Điều 475 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

"Điều 472 Hợp đồng thuê tài sản

Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê.

Hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên quan."

"Điều 475 Cho thuê lại

Bên cho thuê có quyền cho thuê lại tài sản mà mình đã thuê, nếu được bên cho thuê đồng ý."

Như vậy, đối với hợp đồng thuê nhà, các bên tự thỏa thuận về thời hạn thuê, giá thuê, hình thức trả tiền và mục đích thuê nhà. Người thuê nhà chỉ thực hiện việc cho thuê lại tài sản mà mình đã thuê nếu có thỏa thuận trong hợp đồng hoặc được bên cho thuê đồng ý.

Trong trường hợp của bạn, bạn muốn thuê nhà với mục đích kinh doanh cho các thầy cô thuê lại để dạy học, như vậy:

-  Nếu hợp đồng hai bên có thỏa thuận về mục đích cho thuê cụ thể là kinh doanh cho thuê lại nhà thì hiển nhiên bạn có quyền cho các thầy cô thuê lại để dạy học.

-  Nếu hợp đồng hai bên có thỏa thuận về mục đích cho thuê nhưng không rõ ràng, chỉ thỏa thuận rằng bạn được thuê nhà với mục đích kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm và bên cho thuê không cấm; mà hoạt động kinh doanh cho thuê lại nhà thì pháp luật không cấm do đó lúc này bạn chỉ có quyền kinh doanh cho thuê lại nhà nếu được bên cho thuê đồng ý. Còn nếu bên cho thuê không đồng ý mà bạn vẫn thực hiện việc cho thuê lại nhà thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng căn cứ quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 132 Luật nhà ở 2014:

"Điều 132. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở

2. Bên cho thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà và thu hồi nhà ở đang cho thuê khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

đ) Bên thuê chuyển đổi, cho mượn, cho thuê lại nhà ở đang thuê mà không có sự đồng ý của bên cho thuê."

 

Khoản 1 Điều 3 Nghị định 39/2007/NĐ-CP quy định những trường hợp không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh như sau:

"Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, một số từ ngữ được hiểu như sau:

1. Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây:

a) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong;

b) Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định;

c) Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định;

d) Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ;

đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định;

e) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác."

Như vậy, hoạt động cho thuê nhà không thuộc những trường hợp không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh tại Khoản 1 Điều Nghị định 39/2007/NĐ-CP, cho nên sau khi được bên cho thuê đồng ý cho kinh doanh thuê lại nhà, bạn phải thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh cho thuê nhà. Bạn có ý định thuê nhà từ 4-5 phòng rồi cho thuê lại, việc kinh doanh này có quy mô nhỏ nên bạn có thể đăng ký dưới dạng hộ kinh doanh cá thể.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)

Ra nước ngoài định cư có được hưởng bảo hiểm xã hội một lần không?
Hỏi:
Thưa luật sư, cho tôi hỏi tôi tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đến nay đã được 9 năm, nay tôi đang có ý định ra nước ngoài để định cư, vậy tôi có được hưởng bảo hiểm xã hội một lần không? Và nếu được hưởng thì mức hưởng là bao nhiêu?
Người gửi: Minhle@gmail.com - Thành phố Huế (Ngày gửi: 14/03/2019)
Đáp:
 

Theo quy định tại khoản 1 điều 8 Nghị định 115/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc, các trường hợp được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần bao gồm:

Điều 8. Bảo hiểm xã hội một lần

1. Người lao động quy định tại Khoản1 và Khoản 2 Điều 2 của Nghị định này mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại các Khoản 1, 2 và 4 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội hoặc theo quy định tại Khoản 3 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội mà chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện;

b) Sau một năm nghỉ việc mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội;

c) Ra nước ngoài để định cư;

d) Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong,lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quyđịnh của Bộ Y tế;”

Theo quy định trên bạn thuộc trường hợp ra nước ngoài để định cư thì sẽ được hưởng bảo hiểm xã hội một lần với mức hưởng quy định tại khoản 2 điều 8 Nghị định 115/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc như sau:

2. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm được tính như sau:

a) 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước năm 2014;

b) 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi;

c) Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ một năm thì mức hưởng bảo hiểm xã hội bằng số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)

Người chồng có thể giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi vợ chồng ly hônđược không?
Hỏi:
Thưa luật sư, vợ chồng tôi có một con gái được 13 tháng tuổi và chúng tôi đang làm thủ tục ly hôn. Cả tôi và vợ tôi đều muốn giành quyền nuôi con. Vậy cho tôi hỏi tôi có thể giành quyền nuôi con được không?
Người gửi: Minh Hoa - Thành phố Huế (Ngày gửi: 08/03/2019)
Đáp:
 Đáp:

Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con dưới 36 tháng tuổi sau khi ly hôn như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

…..

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Theo quy định trên thì con của vợ chồng bạn hiện tại mới được 13 tháng tuổi (dưới 36 tháng tuổi) do đó nếu vợ chồng bạn ly hôn,thông thường Tòa án sẽ quyết định giao con cho vợ bạn – tức người mẹ trực tiếp nuôi, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

Tuy nhiên, nếu bạn đưa ra được căn cứ chứng minh vợ bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bạn có thể sẽ giành được quyền nuôi con. Tòa án có thể căn cứ dựa trên các yếu tố sau đây:

- Thu nhập hàng tháng: Bạn cần chứng minh được thu nhập hàng tháng của bạn có thể đáp ứng được nhu cầu tài chính cho con phát triển tốt hơn.

- Chỗ ở ổn định: Bạn sẽ có lợi thế khi có thể đáp ứng được việc cho con một chỗ ở ổn định.

- Môi trường sống: Bạn sẽ có lợi thế hơn nếu chứng minh được môi trường sống của con khi ở với bạn sẽ tốt hơn với vợ bạn, cần chỉ ra con được sống ở đâu sau ly hôn, con sẽ ở cùng với ai, môi trường đó tốt như thế nào, bạn có thể dành cho con những tiện nghi như thế nào, việc học hành, vui chơi và di chuyển của con sẽ được đảm bảo ra sao.

- Thời gian làm việc: Bạn sẽ có lợi thế hơn nếu bạn có thể dành cho con nhiều thời gian và sự chăm sóc hơn vợ bạn.

- Hành vi: Nếu bạn chỉ ra được rằng hoạt động hàng ngày, lối sống của bạn lành mạnh, có ảnh hưởng tốt tới sự phát triển của con tốt hơn vợ bạn thì bạn sẽ có được lợi thế giành quyền nuôi con.

Trong trường hợp những căn cứ chứng minh vợ bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà bạn đưa ra là không đủ thuyết phục thì bạn có thể lựa chọn thỏa thuận với vợ bạn để giao con cho bạn nuôi. Tòa án sẽ quyết định để bạn - người cha được trực tiếp nuôi con nếu xét thấy phù hợp với lợi ích của cháu bé.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Số tin trên trang:
Trang:[1]2345678910...
Văn bản mới
Nghĩ và viết
Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của HUELAW
 Đối với chúng tôi hiểu biết một cách sâu sắc về khách hàng chính là điều quan trọng để đi đến thành công. Sự đồng cảm và hiểu biết lẫn nhau là cơ sở để có một bản ý kiến tư vấn thật sự có giá trị cũng như cung cấp dịch vụ pháp lý một cách tốt nhất nhằm đem lại những giải pháp tối ưu theo đúng yêu cầu của khách hàng. HUELAW chú trọng xây dựng quan hệ cá nhân của từng thành viên đối với khách hàng, đảm bảo tư vấn đúng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tốt nhất chính là thành công của chúng tôi. Đến với HUELAW quý khách hàng sẽ nhận được sự trợ giúp về mặt pháp lý một cách nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.

 

Thông tin hoạt động
CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

 Nhân dịp năm mới 2020 - Xuân Canh Tý, HUELAW kính gửi đến qúy khách hàng, quý đối tác, bạn bè - những người đã và đang tin cậy, ủng hộ, đồng hành cùng HUELAW - lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Kính chúc Quý vị cùng gia quyến một năm mới thật nhiều Sức khỏe - Hạnh phúc - May mắn - An khang và Thịnh vượng.