Số lượt truy cập
  Tổng truy cập 4754543
  Hiện tại có 136 khách
Tìm kiếm thông tin
Tin mới
Phân biệt chế định “Tha tù trước thời hạn có điều kiện”của BLHS 2105 với “Đặc xá” do Chủ tịch nước quyết định
3 bước nghiên cứu, xây dựng hồ sơ kiểm sát phúc thẩm dân sự
Vụ Phương Nga: Miễn tội nhưng sợ đã... giam lố
10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch tiêu biểu năm 2018
85 triệu thẻ ATM chuyển sang thẻ chip: Hết lo mất tiền?
Đại hội Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ VII (nhiệm kỳ 2019-2024)
Giải quyết vụ việc dân sự khi chưa có điều luật để áp dụng
Về Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo
Luật sư đưa 3 lý do không nên cấm ghi âm, ghi hình tại trụ sở tiếp dân
Thủ tướng: “Tiếp dân phải ghi âm, ghi hình”
Chọn vấn đề :
 
Chưa từng sinh con có được mang thai hộ không?
Hỏi:
Thưa luật sư, anh chồng (anh trai ruột của chồng em) và chị dâu mãi không sinh được con, đi khám thì bác sĩ bảo cả hai người đều bị vô sinh, mặc dù đã thử thụ tinh trong ống nghiệm nhưng vẫn không thể sinh con được. Cách đây không lâu hai vợ chồng anh chị ấy đã đề cập việc nhờ em mang thai hộ. Do em chưa mang thai và sinh con bao giờ nên rất lo lắng. Vậy cho em hỏi việc anh chồng và chị dâu nhờ em mang thai hộ như vậy có đúng với quy định của pháp luật không? Em có thể mang thai hộ được không?
Người gửi: Hoai Thu - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 15/01/2019)
Đáp:
 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về mang thai hộ như sau:

-       Khoản 22 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con”.

-       Khoản 23 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác”.

Theo đó, pháp luật cấm trường hợp mang thai hộ vì mục đích thương mại (quy định cấm tại điểm g, khoản 2, Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014) và chỉ cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nhưng phải kèm theo các điều kiện cụ thể.

Khoản 1, Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:"Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản". Tức là, để thực hiện việc mang thai hộ thì cần phải có sự tự nguyện của bên nhờ mang thai hộ và bên được nhờ mang thai hộ, không được có bất kỳ sự uy hiếp hay áp đặt ý chí từ bất kì người nào.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:

"a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

b) Vợ chồng đang không có con chung;

c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý."

Như vậy, những cặp vợ chồng vô sinh chưa áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng vẫn không thể có con, đồng thời trước đó họ không có con chung với nhau và đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý thì cặp vợ chồng đó đủ điều về quyền nhờ người mang thai hộ. Theo như trường hợp của bạn thì anh chồng và chị dâu của bạn dù đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng vẫn không thể sinh con, trước đó hai người cũng chưa có người con chung nào. Do đó, anh chồng và chị dâu của bạn chỉ cần được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý thì họ sẽ đủ điều kiện về quyền nhờ mang thai hộ theo quy định của pháp luật

Đồng thời Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện quy định tại Khoản 3, Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014 sau đây:

"a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý."

Theo hướng dẫn của Khoản 7, Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP thì người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ bao được quy định như sau:

"7. Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ."

Như vậy bạn đáp ứng điều kiện người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ. Tuy nhiên, như bạn đã nói ở trên thì bạn chưa mang thai và sinh con lần nào, điều này lại không đáp ứng điều kiện “đã từng sinh con”. Do vậy, theo quy định của pháp luật bạn không được mang thai hộ.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Cho thuê nhà có bắt buộc phải đăng ký kinh doanh?
Hỏi:
Tôi hiện có một căn hộ chưa sử dụng nên cho thuê để lấy thêm thu nhập, hợp đồng thuê nhà hai bên ký thỏa thuận 1 năm đồng thời thanh toán tiền thuê 6 tháng/lần. Vậy tôi có cần phải đăng ký kinh doanh không, nếu không đăng ký kinh doanh tôi có bị phạt không?
Người gửi: Minh Thu - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 15/01/2019)
Đáp:
 Khoản 1, Điều 3 Nghị định 39/2007/NĐ-CP quy định về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh như sau:

"1 Cá nhân hoạt động th­ương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động đ­ược pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác như­ng không thuộc đối t­ượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “th­ương nhân” theo quy định của Luật Thương mại. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động th­ương mại sau đây:

a) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các th­ương nhân đ­ược phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong;

b) Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định;

c) Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, n­ước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định;

d) Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc ng­ười bán lẻ;

đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định;

e) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, th­ường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác."

Như vậy, hoạt động cho thuê nhà của bạn không nằm trong những hoạt động thương mại không phải đăng ký kinh doanh nên bạn phải đăng ký kinh doanh cho thuê nhà. Vì việc kinh doanh này có quy mô nhỏ, nên chỉ cần đăng ký dưới dạng hộ kinh doanh cá thể.

Nếu bạn không đăng ký kinh doanh sẽ bị xử phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng vì hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh mà không có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh theo quy định tại khoản 7, Điều 1 Nghị định 124/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng):

"7. Sửa đổi Điều 6 như sau:

“Điều 6. Hành vi vi phạm về hoạt động kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh không đúng địa điểm, trụ sở ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh mà không có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh theo quy định.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tiếp tục hoạt động kinh doanh trong thời gian bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

5. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 4 Điều này trong trường hợp kinh doanh ngành, nghề thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.”

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Có được thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn không ?
Hỏi:
Thưa luật sư, tôi và vợ tôi đã ly hôn, Tòa án tuyên vợ tôi là người trực tiếp nuôi con, tôi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, hiện tại con của tôi đã 8 tuổi, vợ cũ của tôi đã đi làm ăn ở nước ngoài và có tin đồn là lấy chồng nước ngoài luôn, con của tôi ở với ông bà ngoại. Tôi rất thương con và nhận thấy mình có đủ điều kiện để chu cấp, nuôi dưỡng con. Vậy tôi có thể yêu cầu tòa án thay đổi người nuôi con sau khi ly hôn được không?
Người gửi: Minh Hue - Đông Hà Quảng Trị (Ngày gửi: 08/01/2019)
Đáp:
 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ."

Như vậy căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nêu trên thì trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức bao gồm người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ thì Tòa án sẽ xem xét và có thể ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con dựa trên cơ sở lợi ích của con.

Do đó, bạn có quyền được yêu cầu tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con từ vợ bạn sang cho bạn, tuy nhiên bạn phải chứng minh được một trong các căn cứ sau đây:

Thứ nhất: Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con (Điểm a, khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014).

Nghĩa là bạn nên chủ động liên lạc với vợ cũ của mình để hai bên có thể thỏa thuận với nhau về việc bạn là người trực tiếp nuôi con và không yêu cầu mức cấp dưỡng. Việc thỏa thuận này phải xuất phát từ sự tự nguyện của hai bên, xuất phải từ lợi ích của con và được thể hiện bằng văn bản. Vì hiện tại vợ cũ của bạn đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài, cô ấy cũng có dự định kết hôn và ông bà ngoại cũng đã có tuổi, nên bạn hoàn toàn có thể phân tích và thỏa thuân với vợ cũ về vấn đề để bạn là người trực tiếp nuôi con, như vậy sẽ tốt hơn cho con của mình.

Thứ hai, trường hợp không thỏa thuận được với nhau thì bạn cần chứng minh được Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con (Điểm b, khoản 2 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014).

Nghĩa là bạn phải chứng minh được vợ của mình đi làm ăn ở nước ngoài, không thể trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dạy con chung được, trong lúc bạn đang ở quê, ở gần con có điều kiện để nuôi dạy con hơn. Vợ bạn không trực tiếp chăm sóc con mà để con ở nhà với ông bà ngoại, rõ ràng để con ở với bạn sẽ tốt hơn vì ông bà cũng đã có tuổi. Ngoài ra bạn cần chứng minh được hiện tại bạn có chỗ ở ổn định, có công việc ổn định, có thu nhập, có mức lương cao hơn vợ bạn.

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định tại khoản 3 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 "Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên", do đó phải xem xét thêm nguyện vọng của con bạn vì cháu bé đã được 8 tuổi rồi.

 B phn tư vn pháp lut – Văn phòng lut sư Huế (Huelaw)

 

 

Có phải khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trong thời gian thử việc không?
Hỏi:
Hiện nay tôi đang thử việc trước khi chính thức ký hợp đồng lao động. Vậy trong thời gian thử việc đó thì có phải khấu trừ thuế thu nhập cá nhân không ?
Người gửi: Mai Hoa - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 08/01/2019)
Đáp:
 Điểm b, điểm i, khoản 1, điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC (của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhânLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân) quy định về khấu trừ thuế thu nhập cá nhân như sau:

“b) Thu nhập từ tiền lương, tiền công

b.1) Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế luỹ tiến từng phần, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ ba (03) tháng trở lên tại nhiều nơi.

b.2) Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên nhưng nghỉ làm trước khi kết thúc hợp đồng lao động thì tổ chức, cá nhântrả thu nhập vẫn thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế luỹ tiến từng phần.

….

i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. ……”

Từ quy định trên nhận thấy:

– Thứ nhất, nếu sau thời gian thử việc, người lao động tiếp tục ký hợp đồng dài hạn, thì thời gian thử việc cũng được khấu trừ thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần.

– Thứ hai, nếu sau thời gian thử việc, người lao động không tiếp tục ký hợp đồng lao động dài hạn:

+ Khấu trừ thuế theo quy định tại Điểm i, Khoản 1, Điều 25, Thông tư 111/2013/TT-BTC: Nếu mỗi lần chi trả cho cá nhân trên 2 triệu đồng thì doanh nghiệp khấu trừ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân.

+ Nếu cá nhân làm Bản cam kết mẫu 02/CK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư 92/2015/TT-BTC chỉ có thu nhập duy nhất tại công ty mà tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì công ty tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân của cá nhân đó. Cá nhân chỉ được làm bản cam kết khi đã có mã số thuế TNCN và phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự cam kết sai sự thật thì cá nhân sẽ phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

B phn tư vn pháp lut – Văn phòng lut sư Huế (Huelaw)

Mẹ đơn thân có được tự chọn họ cho con không?
Hỏi:
Thưa Luật sư, chị gái tôi là mẹ đơn thân, chưa kết hôn nhưng đã mang thai và sinh em bé, cha đẻ của đứa bé không nhận con. Vì vậy, khi đi khai sinh cho cháu bé, chị tôi khai họ của cháu theo họ chị nhưng cán bộ hộ tịch yêu cầu chị phải xác định cha đẻ của cháu bé để ghi theo họ cha. Tôi muốn hỏi trường hợp của chị có thể lựa chọn họ cho con tùy thích không?
Người gửi: Thu Hoài - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 05/01/2019)
Đáp:
 Việc xác định họ cho con được quy định cụ thể trong các điều khoản dưới đây:

-       Khoản 2 Điều 26 Bộ luật dân sự năm 2015:

"Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ."

-       Điểm a Khoản khoản 1 Điều 4 Nghị định 123/2015/NĐ-CP:

"Họ, chữ đệm, tên và dân tộc của trẻ em được xác định theo thỏa thuận của cha, mẹ theo quy định của pháp luật dân sự và được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được, thì xác định theo tập quán."

-       Khoản 2 Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP:

"Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống."

Như vậy, đối với trường hợp của chị bạn, nếu chị bạn chưa kết hôn và cha đẻ của cháu bé cũng không có yêu cầu nhận con thì chị bạn có thể khai họ cháu bé theo họ của chị bạn mà không phải cung cấp thông tin của người cha như cán bộ hộ tịch yêu cầu. Hoặc có thể lựa chọn một họ khác nếu tập quán tại địa phương nơi cháu bé khai sinh cho phép chọn họ của con không theo họ cha, mẹ.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Cử nhân luật có được làm người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa hình sự hay không?
Hỏi:
Cho tôi hỏi, Cử nhân luật có được làm người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa hình sự hay không?
Người gửi: Minh Toàn - Đông Hà Quảng Trị (Ngày gửi: 05/01/2019)
Đáp:

"1. Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa."

Theo đó, tại Khoản 2 Điều 72 BLTTHS 2015 có quy định về những người có thể trở thành người bào chữa bao gồm:

"2. Người bào chữa có thể là:

a) Luật sư;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Bào chữa viên nhân dân;

d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý."

Các tiêu chuẩn để trở thành những người bào chữa được quy định cụ thể như sau:

-       Tiêu chuẩn Luật sư được quy định tại Điều 10, Điều 11 Luât luật sư 2006:

"Điều 10: Tiêu chuẩn luật sư

Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.

Điều 11. Điều kiện hành nghề luật sư

Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư."

-       Tiêu chuẩn Người đại diện của người bị buộc tội:

BLTTHS 2015 chỉ quy định Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân và Người đại diện của người dưới 18 tuổi phạm tội mới có quyền bào chữa cho pháp nhân mình hoặc người phạm tội do mình đại diện.

-       Tiêu chuân Bào chữa viên nhân dân quy định Khoản 3 Điều 72 BLTTHS 2015:

"3. Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình."

-       Tiêu chuẩn Trợ giúp viên pháp lý quy định tại Điều 19 Luật trợ giúp pháp lý 2017

"Điều 19. Tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý

Công dân Việt Nam là viên chức của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước có đủ tiêu chuẩn sau đây có thể trở thành trợ giúp viên pháp lý:

1. Có phẩm chất đạo đức tốt;

2. Có trình độ cử nhân luật trở lên;

3. Đã được đào tạo nghề luật sư hoặc được miễn đào tạo nghề luật sư; đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý;

4. Có sức khỏe bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý;

5. Không đang trong thời gian bị xử lý kỷ luật."

Đối chiếu các tiêu chuẩn trên, ta thấy với trình độ cử nhân Luật, một người nếu không thuộc các trường hợp không được làm người bào chữa theo quy định và được Tòa cấp giấy chứng nhận bào chữa thì có thể trở thành người bào chữa cho người bị buộc tội với tư cách là người đại diện của người bị buộc tội hoặc bào chữa viên nhân dân (trường hợp là thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình).

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức hành nghề công chứng khi văn bản công chứng bị tuyên bố vô hiệu?
Hỏi:
Thưa luật sư, cho tôi hỏi nếu trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu mà trong đó có lỗi của công chứng viên dẫn đến văn bản công chứng bị tuyên bố vô hiệu và gây ra thiệt hại cho người yêu cầu công chứng thì công chứng viên đó hay phòng công chứng nơi công chứng viên đó công tác có phải chịu trách nhiệm bồi thường không?
Người gửi: Hồng Nguyên - Thừa Thiên Huế (Ngày gửi: 03/01/2019)
Đáp:
 Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 quy định về bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng như sau:

 

“1. Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng.

2. Công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp không hoàn trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Như vậy, pháp luật đã quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại (sau đây viết tắt là BTTH) của tổ chức hành nghề công chứng (viết tắt là TCHNCC) nếu do lỗi của công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch gây ra trong quá trình công chứng. Do đó, nếu trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu mà có lỗi của TCHNCC dẫn đến văn bản công chứng bị tuyên bố vô hiệu và gây ra thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác thì TCHNCC phải có trách nhiệm BTTH.

Việc giải quyết trách nhiệm BTTH của TCHNCC có 02 phương án:

Phương án 1: Trách nhiệm BTTH của TCHNCC phải được giải quyết ngay trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

 Theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự 2015 thì:

 “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập; khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả…Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

Khi Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Như vậy, nếu chứng minh được lỗi dẫn đến văn bản công chứng vô hiệu là do TCHNCC gây ra thì TCHNCC phải có trách nhiệm BTTH cho người yêu cầu, người liên quan bị thiệt hại. Để đảm bảo những yêu cầu của đương sự và những vấn đề phát sinh trong vụ án được giải quyết triệt để, toàn diện thì trách nhiệm TBTH của TCHNCC phải được giải quyết ngay trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

Phương án 2: Không thể giải quyết về trách nhiệm BTTH của TCHNCC ngay trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu mà phải tách ra bằng một vụ án khác.

Đa phần tại thời điểm giải quyết vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì thiệt hại từ hậu quả của văn bản công chứng vô hiệu chưa xảy ra trên thực tế (mặc dù chắc chắn rằng thiệt hại sẽ xảy ra) hoặc có xảy ra thì cũng chưa thể xác định cụ thể về mức độ thiệt hại.

Bên cạnh đó, khi văn bản công chứng bị tuyên bố vô hiệu, trong một số trường hợp, lỗi không hoàn toàn thuộc về công chứng viên, nhân viên…của TCHNCC mà có cả lỗi của người yêu cầu công chứng, người liên quan. Vì thế, nếu giải quyết trách nhiêm bồi thường của TCHNCC thì phải xác định phần lỗi của từng đương sự để xác định phần trách nhiệm. Nhưng thiệt hại thực tế chưa xảy ra hoặc chưa thể xác định đầy đủ, cụ thể, rõ ràng, chính xác về thiệt hại là bao nhiêu, như thế nào nên Tòa án cũng không thể buộc từng đương sự phải chịu phần bồi thường là bao nhiêu. Vì thế, để giải quyết việc bồi thường của TCHNCC được chính xác thì cần phải chờ khi các bên thi hành bản án của vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, thực hiện nghĩa vụ cho nhau đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì lúc này mới xác định được cụ thể thiệt hại thực tế xảy ra. Do đó, trong trường hợp này Tòa án cần phải giải thích và hướng dẫn cho đương sự rút yêu cầu về trách nhiệm BTTH của TCHNCC và khởi kiện bằng một vụ án khác khi thiệt hại thực tế đã xảy ra và đã xác định được cụ thể về định lượng. Nếu đương sự vẫn không rút yêu cầu thì Tòa án yêu cầu họ chứng minh về thiệt hại để có căn cứ giải quyết, nếu họ không chứng minh được thì bác và tách yêu cầu này của họ để họ khởi kiện thành một vụ án khác.

Nếu trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, người yêu cầu chứng minh được đầy đủ, rõ ràng, chính xác, có định lượng cụ thể các thiệt hại thực tế xảy ra từ hậu quả của việc văn bản công chứng vô hiệu do lỗi của TCHNCC thì Tòa án giải quyết ngay trong vụ việc đó; còn nếu họ không chứng minh được thì Tòa án tách yêu cầu này của họ thành một vụ án khác.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)  
 
Điều kiện và thủ tục đăng ký lại kết hôn?
Hỏi:
Thưa luật sư, vợ chồng tôi đăng ký kết hôn vào năm 2010, nay có việc cần dùng để khai sinh cho con nhưng lại phát hiện bị mất Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Vậy cho tôi hỏi điều kiện và thủ tục để được cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bị mất là gì?
Người gửi: Minh Nguyệt - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 03/01/2019)
Đáp:
 Giấy chứng nhận kết hôn là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho hai bên nam, nữ khi đăng ký kết hôn; nội dung Giấy chứng nhận kết hôn bao gồm các thông tin cơ bản quy định.

Theo quy định tại Điều 24 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch thì để được cấp lại giấy chứng nhận kết hôn bị mất (hay nói cách khác là đăng ký lại kết hôn) người yêu cầu phải đáp ứng đủ 3 điều kiện:

"1. Việc kết hôn đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.

2. Người yêu cầu đăng ký lại kết hôn có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại.

3. Việc đăng ký lại kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ."

Thẩm quyền đăng ký lại kết hôn theo quy định tại Điều 25 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký kết hôn trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại kết hôn.

Thủ tục đăng ký lại kết hôn được quy định tại Điều 27 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch cụ thể như sau:

"1. Hồ sơ đăng ký lại kết hôn gồm các giấy tờ sau:

a) Tờ khai theo mẫu quy định;

b) Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp trước đây. Nếu không có bn sao Giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ cá nhân có các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự quy định tạKhoản 2 Điều 18 của Luật Hộ tịch.

Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký kết hôn trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký kết hôn, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại kết hôn như quy định tại Khoản 2 Điều này.

4. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn trước đây và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ hộ tịch. Trường hợp không xác định được ngày, tháng đăng ký kết hôn trước đây thì quan hệ hôn nhân được công nhận từ ngày 01 tháng 01 của năm đăng ký kết hôn trước đây."

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)     

Khi nào phải đăng ký tạm trú?
Hỏi:

Hộ khẩu thường trú của cháu ở thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế cháu mới chuyển lên thành phố Huế được 1 tháng và thuê trọ ở tại thành phố. Hiện tại thì cháu chưa đăng kí tạm trú, vậy cho cháu hỏi cháu có vi phạm pháp luật không ạ? Và nếu có thì mức phạt của cháu sẽ như thế nào ạ?

Người gửi: Lê Uyên - TP Huế (Ngày gửi: 29/11/2017)
Đáp:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 30 của Luật Hộ tịch năm 2006 về Đăng ký tạm trú thì: Ng­ười đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn”.

Căn cứ Khoản 1 Điều 8 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình:

Vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú:

Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú hoặc điều chỉnh những thay đổi trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú;

b) Cá nhân, chủ hộ gia đình không thực hiện đúng quy định về thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng;

c) Không chấp hành việc kiểm tra hộ khẩu, kiểm tra tạm trú, kiểm tra lưu trú hoặc không xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Như vậy trường hợp của bạn có hộ khẩu thường trú ở thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế nhưng học tập, sinh sống ở một địa điểm khác nơi bạn đăng ký thường trú, cụ thể là thành phố Huế thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bạn đến thành phố Huế bạn phải đăng ký tạm trú tại Công an phường  nơi bạn thuê trọ.

Nếu quá thời hạn 30 ngày nói trên mà bạn vẫn chưa thực hiện việc khai báo, đăng ký tạm trú thì bạn vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 8 Nghị định 167/2013/NĐ-CP đối với hành vi không thực hiện đúng quy định về đăng ký tạm trú. Do đó bạn sẽ bị phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi vi phạm này.

   Trân trọng!

            Bộ phận tư vận pháp luật - Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW) 

Công chức được Tòa án cho hưởng án treo có bị kỷ luật buộc thôi việc không?
Hỏi:

Vừa qua, anh trai tôi đã bị Tòa án tuyên phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nhưng được Tòa án cho hưởng án treo (không bị tuyên hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định). Anh tôi là công chức của một cơ quan nhà nước. Xin hỏi anh tôi có bị buộc thôi việc sau khi có bản án của Tòa án không?

Người gửi: Phạm Anh Khoa - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 31/08/2017)
Đáp:

Theo quy định tại Điều 14 Nghị định 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức thì hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây: 1. Bị phạt tù mà không được hưởng án treo; 2. Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị; 3. Nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền; 4. Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 7 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà đã được cơ quan sử dụng công chức thông báo bằng văn bản 3 lần liên tiếp; 5. Vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức.

Đồng thời, Khoản 1 Điều 5 Nghị định 61/2000/NĐ-CP  của Chính phủ ngày 30/10/2000 quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo quy định như sau: “Người được hưởng án treo là cán bộ, công chức, quân nhân, công đưnhân quốc phòng, người lao động làm công ăn lương, nếu được tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị Quân đội nơi mình làm việc trước khi phạm tội thì được bố trí công việc phù hợp với yêu cầu, mục đích giám sát, giáo dục và được hưởng chế độ của cán bộ, công chức, quân nhân, người lao động làm công ăn lương theo công việc mà mình đảm nhiệm”.

Như vậy, anh trai của bạn là công chức sau khi tòa án cho được hưởng án treo thì không thuộc trường hợp bị buộc thôi việc của công chức.

BỘ PHẬN TƯ VÁN - VPLS HUẾ

Điều kiện và thủ tục đăng ký lại kết hôn?
Hỏi:
Thưa luật sư, vợ chồng tôi đăng ký kết hôn vào năm 2010, nay có việc cần dùng để khai sinh cho con nhưng lại phát hiện bị mất Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Vậy cho tôi hỏi điều kiện và thủ tục để được cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn bị mất là gì?
Người gửi: Hoa Nguyen - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 22/12/2018)
Đáp:
 Giấy chứng nhận kết hôn là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho hai bên nam, nữ khi đăng ký kết hôn; nội dung Giấy chứng nhận kết hôn bao gồm các thông tin cơ bản quy định.

Theo quy định tại Điều 24 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch thì để được cấp lại giấy chứng nhận kết hôn bị mất (hay nói cách khác là đăng ký lại kết hôn) người yêu cầu phải đáp ứng đủ 3 điều kiện:

"1. Việc kết hôn đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.

2. Người yêu cầu đăng ký lại kết hôn có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại.

3. Việc đăng ký lại kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ."

Thẩm quyền đăng ký lại kết hôn theo quy định tại Điều 25 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký kết hôn trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại kết hôn.

Thủ tục đăng ký lại kết hôn được quy định tại Điều 27 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật hộ tịch cụ thể như sau:

"1. Hồ sơ đăng ký lại kết hôn gồm các giấy tờ sau:

a) Tờ khai theo mẫu quy định;

b) Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp trước đây. Nếu không có bn sao Giấy chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao hồ sơ, giấy tờ cá nhân có các thông tin liên quan đến nội dung đăng ký kết hôn.

2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ. Nếu thấy hồ sơ đăng ký lại kết hôn là đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện đăng ký lại kết hôn như trình tự quy định tạKhoản 2 Điều 18 của Luật Hộ tịch.

Nếu việc đăng ký lại kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải là nơi đã đăng ký kết hôn trước đây thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hộ tịch tại địa phương.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký kết hôn trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.

3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đã đăng ký kết hôn, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký lại kết hôn như quy định tại Khoản 2 Điều này.

4. Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày đăng ký kết hôn trước đây và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ hộ tịch. Trường hợp không xác định được ngày, tháng đăng ký kết hôn trước đây thì quan hệ hôn nhân được công nhận từ ngày 01 tháng 01 của năm đăng ký kết hôn trước đây."

 
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức hành nghề công chứng khi văn bản công chứng bị tuyên bố vô hiệu?
Hỏi:
Thưa luật sư, cho tôi hỏi nếu trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu mà trong đó có lỗi của công chứng viên dẫn đến văn bản công chứng bị tuyên bố vô hiệu và gây ra thiệt hại cho người yêu cầu công chứng thì công chứng viên đó hay phòng công chứng nơi công chứng viên đó công tác có phải chịu trách nhiệm bồi thường không?
Người gửi: Minh Hoa - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 22/12/2018)
Đáp:
 Điều 38 Luật Công chứng năm 2014 quy định về bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng như sau:

 

“1. Tổ chức hành nghề công chứng phải bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác do lỗi mà công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình gây ra trong quá trình công chứng.

2. Công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch là cộng tác viên gây thiệt hại phải hoàn trả lại một khoản tiền cho tổ chức hành nghề công chứng đã chi trả khoản tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật; trường hợp không hoàn trả thì tổ chức hành nghề công chứng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Như vậy, pháp luật đã quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại (sau đây viết tắt là BTTH) của tổ chức hành nghề công chứng (viết tắt là TCHNCC) nếu do lỗi của công chứng viên, nhân viên hoặc người phiên dịch gây ra trong quá trình công chứng. Do đó, nếu trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu mà có lỗi của TCHNCC dẫn đến văn bản công chứng bị tuyên bố vô hiệu và gây ra thiệt hại cho người yêu cầu công chứng và cá nhân, tổ chức khác thì TCHNCC phải có trách nhiệm BTTH.

Việc giải quyết trách nhiệm BTTH của TCHNCC có 02 phương án:

Phương án 1: Trách nhiệm BTTH của TCHNCC phải được giải quyết ngay trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

 Theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự 2015 thì:

 “Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập; khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả…Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

Khi Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Như vậy, nếu chứng minh được lỗi dẫn đến văn bản công chứng vô hiệu là do TCHNCC gây ra thì TCHNCC phải có trách nhiệm BTTH cho người yêu cầu, người liên quan bị thiệt hại. Để đảm bảo những yêu cầu của đương sự và những vấn đề phát sinh trong vụ án được giải quyết triệt để, toàn diện thì trách nhiệm TBTH của TCHNCC phải được giải quyết ngay trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.

Phương án 2: Không thể giải quyết về trách nhiệm BTTH của TCHNCC ngay trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu mà phải tách ra bằng một vụ án khác.

Đa phần tại thời điểm giải quyết vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu thì thiệt hại từ hậu quả của văn bản công chứng vô hiệu chưa xảy ra trên thực tế (mặc dù chắc chắn rằng thiệt hại sẽ xảy ra) hoặc có xảy ra thì cũng chưa thể xác định cụ thể về mức độ thiệt hại.

Bên cạnh đó, khi văn bản công chứng bị tuyên bố vô hiệu, trong một số trường hợp, lỗi không hoàn toàn thuộc về công chứng viên, nhân viên…của TCHNCC mà có cả lỗi của người yêu cầu công chứng, người liên quan. Vì thế, nếu giải quyết trách nhiêm bồi thường của TCHNCC thì phải xác định phần lỗi của từng đương sự để xác định phần trách nhiệm. Nhưng thiệt hại thực tế chưa xảy ra hoặc chưa thể xác định đầy đủ, cụ thể, rõ ràng, chính xác về thiệt hại là bao nhiêu, như thế nào nên Tòa án cũng không thể buộc từng đương sự phải chịu phần bồi thường là bao nhiêu. Vì thế, để giải quyết việc bồi thường của TCHNCC được chính xác thì cần phải chờ khi các bên thi hành bản án của vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, thực hiện nghĩa vụ cho nhau đối với hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì lúc này mới xác định được cụ thể thiệt hại thực tế xảy ra. Do đó, trong trường hợp này Tòa án cần phải giải thích và hướng dẫn cho đương sự rút yêu cầu về trách nhiệm BTTH của TCHNCC và khởi kiện bằng một vụ án khác khi thiệt hại thực tế đã xảy ra và đã xác định được cụ thể về định lượng. Nếu đương sự vẫn không rút yêu cầu thì Tòa án yêu cầu họ chứng minh về thiệt hại để có căn cứ giải quyết, nếu họ không chứng minh được thì bác và tách yêu cầu này của họ để họ khởi kiện thành một vụ án khác.

Nếu trong vụ việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, người yêu cầu chứng minh được đầy đủ, rõ ràng, chính xác, có định lượng cụ thể các thiệt hại thực tế xảy ra từ hậu quả của việc văn bản công chứng vô hiệu do lỗi của TCHNCC thì Tòa án giải quyết ngay trong vụ việc đó; còn nếu họ không chứng minh được thì Tòa án tách yêu cầu này của họ thành một vụ án khác.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)  
 
Có được chứng thực bản sao giấy tờ đã hết hạn sử dụng?
Hỏi:
Vừa qua bố tôi đến UBND xã để chứng thực bản sao Chứng minh nhân dân của bố tôi nhưng cán bộ Tư pháp hộ tịch từ chối chứng thực bản sao với lý do chứng minh nhân dân của bố đã hết hạn sử dụng (quá thời hạn 15 năm theo quy định tại Nghị định số 05/1999/NĐ-CP ngày 03/02/1999 của Chính phủ về Chứng minh nhân dân). Xin hỏi, việc người thực hiện chứng thực từ chối yêu cầu chứng thực của bố tôi trong với lý do như trên là đúng hay sai?
Người gửi: Hồng Linh - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 15/12/2018)
Đáp:
 : Văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực chứng thực hiện hành là Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2016 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch và trước đây là Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký đều có điều khoản quy định về bản chính giấy tờ, văn bản không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao. Tuy nhiên trong các điều khoản này cũng như toàn bộ nội dung hai Nghị định trên cũng không hề có quy định bản chính giấy tờ hết hạn sử dụng thì không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao.

Cụ thể:

Nghị định số 79/2007/NĐ-CP quy định 05 (năm) trường hợp không được chứng thực bản sao từ bản chính gồm: (1) Bản chính được cấp sai thẩm quyền hoặc giả mạo; (2) Bản chính đã bị tẩy xoá, sửa chữa, thêm, bớt hoặc đã bị hư hỏng, cũ nát không thể xác định rõ nội dung; (3) Bản chính không được phép phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật; (4) Đơn, thư và các giấy tờ do cá nhân tự lập không có chứng nhận, chứng thực hoặc xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; (5) Các giấy tờ, văn bản khác mà pháp luật quy định không được sao (Điều 16 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP).           

Nghị định số 23/2015/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 10/4/2015 và thay thế Nghị định số 79/2007/NĐ-CP)  quy định 6 (sáu) loại bản chính giấy tờ, văn bản không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao gồm: (1) Bản chính bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt nội dung không hợp lệ; (2) Bản chính bị hư hỏng, cũ nát, không xác định được nội dung; (3) Bản chính đóng dấu mật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc không đóng dấu mật nhưng ghi rõ không được sao chụp; (4) Bản chính có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân; (5) Bản chính do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận chưa được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định; (6) Giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập nhưng không có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (Điều 22 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP).     

Như vậy, bản chính giấy tờ đã hết hạn sử dụng nhưng không thuộc các trường hợp nêu tại Điều 22 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP (trước ngày 10/4/2015 là các trường hợp nêu tại Điều 16 Nghị định số 79/2007/NĐ-CP) thì vẫn được thực hiện chứng thực bản sao, người thực hiện chứng thực không được từ chối yêu cầu chứng thực của người dân.  

 

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)     
 
 

 

Điều kiện và thủ tục để được hưởng trợ cấp thất nghiệp
Hỏi:
Điều kiện và thủ tục để được hưởng trợ cấp thất nghiệp
Người gửi: Minh Hao - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 05/11/2018)
Đáp:
 Khoản 3 Điều 49 Luật Việc làm số 38/2013/QH13 quy định điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp: “Người lao động đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại Khoản 1 Điều 46 của Luật này”. Theo đó, Khoản 1 Điều 46 của Luật Việc làm quy định: Trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập. Như vậy, thời hạn nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp là trong vòng 3 tháng kể từ thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

Người lao động sẽ được nhận tiền trợ cấp thất nghiệp nếu đáp ứng 3 điều kiện:

- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong 24 tháng, trước khi nghỉ việc.

- Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm dịch vụ việc làm;

- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, từ ngày nộp hồ sơ.

Tiền trợ cấp thất nghiệp được tính theo công thức sau:

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng

=

Mức lương bình quân của 06 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp

x

60%

- Với người lao động hưởng lương từ ngân sách Nhà nước: Tiền trợ cấp thất nghiệp hằng tháng tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở.

- Với người lao động hưởng lương từ doanh nghiệp: Tiền trợ cấp thất nghiệp hằng tháng tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng.

Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp.

Sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.

Hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp bao gồm:

- Đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu;

- Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng lao động đã hết hạn hoặc Quyết định thôi việc; Quyết định sa thải; Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động…

- Sổ bảo hiểm xã hội.

Nơi nộp hồ sơ: Hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp được nộp cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động và chưa có việc làm.

Thời hạn giải quyết hồ sơ: Trung tâm dịch vụ việc làm trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

Công chức tái hôn có được sinh con thứ ba?Công chức tái hôn có được sinh con thứ ba?
Hỏi:
Tôi là công chức, đã có hai con với người chồng trước. Hiện tại, tôi có ý định tái hôn. Xin hỏi,tôi có thể sinh thêm một đứa con với người chồng sau được không? Nếu sinh thêm một đứa con nữa thì có vi phạm chính sách dân số hay không?
Người gửi: Lan Anh, - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 29/10/2018)
Đáp:
 Căn cứ theo Quy định số 64 của Bộ Chính trị và hướng dẫn số 11/HDUBKT ngày 24/3/2008 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cán bộ, Đảng viên nếu tái hôn mà cả hai đã có con riêng hoặc một trong hai người đã có con riêng thì được sinh một con chung. Trường hợp sinh con chung thứ hai là vi phạm quy định, coi như sinh con lần thứ ba.

Khoản 6 Điều 2 Nghị định 20/2010/NĐ-CP ngày 08/32010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh Dân số (có hiệu lực từ ngày 24/9/2010) về trường hợp không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con, như sau: “Cặp vợ chồng mà một hoặc cả hai người đã có con riêng (con đẻ), chỉ được sinh một con hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh. Quy định này không áp dụng cho trường hợp tái hôn giữa hai người đã từng có hai con chung trở lên và hiện còn sống”.

Như vậy, cụ thể trong trường hợp của bạn đã có hai con với chồng trước, sau khi ly hôn và kết hôn với chồng mới thì bạn chỉ được sinh một hoặc hai con trở lên trong một lần sinh. Nếu bạn sinh con lần thứ hai thì bị coi là vi phạm chính sách kế hoạch hóa gia đình. Tuy nhiên, trường hợp bạn ly hôn rồi sau đó tái hôn với người chồng cũ đã có hai con chung thì bạn không được sinh thêm.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (HUELAW)

Số tin trên trang:
Trang:[1]2345678910...
Văn bản mới
Nghĩ và viết
Nghề Luật Sư.

Nghề luật sư được cho là tiêu biểu nhất và thể hiện đầy đủ nhất những đặc trưng của nghề luật. Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì người luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Luật sư là những người được trọng vọng trong xã hội bởi họ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền cơ bản của công dân và phát triển xã hội.Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Nếu hiểu nghề luật như là nghề kiếm sống có liên quan đến luật, có thể kể ra nhiều công việc khác cũng được gọi là nghề luật như: chấp hành viên, điều tra viên, giám định viên, chuyên viên pháp lý, cố vấn pháp lý, giáo viên dạy luật, cán bộ nghiên cứu pháp luật… trong các cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan công an, cơ quan hành chính Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp, trường học, viện nghiên cứu… . Ở nghĩa rộng, chúng ta thấy nghề luật thật phong phú và đa dạng  trong xã hội

 

Thông tin hoạt động
CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

Nhân dịp năm mới 2019 - Xuân Kỷ Hợi, HUELAW kính gửi đến qúy khách hàng, quý đối tác, bạn bè - những người đã và đang tin cậy, ủng hộ, đồng hành cùng HUELAW - lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Kính chúc Quý vị cùng gia quyến một năm mới thật nhiều Sức khỏe - Hạnh phúc - May mắn - An khang và Thịnh vượng.