Số lượt truy cập
  Tổng truy cập 5984473
  Hiện tại có 34 khách
Tìm kiếm thông tin
Tin mới
Bắt giam nguyên phó phòng ở Viện KSND tỉnh Đồng Nai
Giá vàng tiếp tục tăng sốc, lập kỷ lục mới
Chủ mưu vụ 'thi thể trong bêtông' tại Bình Dương bị tuyên tử hình
Chính thức giảm 50% lệ phí trước bạ ô tô từ hôm nay
12 Luật sẽ chính thức có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 1/7/2020
11 giám đốc công an tỉnh vừa được Bộ Công an bổ nhiệm
Giám sát chặt an ninh tại phiên xử 4 phụ nữ giết người
Báo chí và Tòa án – Mối tương tác bền vững
Nghịch lý xâm phạm chỗ ở người khác nhưng không bị xử lý
Tuyên y án tử hình 6 bị cáo trong vụ cưỡng bức, sát hại nữ sinh giao gà
Chọn vấn đề :
 
TÁCH HỘ KHẨU
Hỏi:
Tôi, Nguyễn Thị B và anh Trần Văn A đăng ký kết hôn năm 2015 tại UBND phường Xuân Phú, thành phố Huế. Đến năm 2020 chúng tôi ly hôn và đã có quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án nhân dân thành phố Huế. Trong thời gian kết hôn, chúng tôi có đăng ký hộ khẩu tại phường Xuân Phú và anh B là người đứng tên chủ hộ. Sau khi ly hôn, tôi đã nhiều lần mượn anh A sổ hộ khẩu để tách hộ khẩu nhưng anh A gây khó khăn và không đưa sổ cho tôi. Vậy tôi phải làm cách nào để có thể tách được hộ khẩu. Kính mong nhờ Luật sư giải đáp thắc mắc này.
Người gửi: Nguyễn Thị B - Thành phố Huế (Ngày gửi: 03/07/2020)
Đáp:
 

Căn cứ pháp lý:Luật cư trú năm 2006, sửa đổi, bổ sung 2013; Thông tư 35/2014/TT-BCAquy định chi tiết thi hành một số điều của luật cư trú và nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2014 của chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật cư trú

Theo khoản 2 Điều 27 Luật cư trú quy định về Tách sổ hộ khẩu như sau:“Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này”

Khoản 4 Điều 28 Luật cư trú quy định:“Hồ sơ cấp giấy chuyển hộ khẩu bao gồm sổ hộ khẩu và phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu”

Khoản 5 Điều 10 Thông tư 35/2014/TT-BCA quy định: “Người có nhu cầu tách sổ hộ khẩu quy định tại điểm b khoản 1 Điều 27 Luật Cư trú thì chủ hộ phải ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu đồng ý cho tách sổ hộ khẩu, ký, ghi rõ họ tên và ngày, tháng, năm. Khi tách sổ hộ khẩu không cần xuất trình giấy tờ về chỗ ở hợp pháp.”

Như vậy, trường hợp tách hộ khẩu phải có sổ hộ khẩu (gốc) đồng thời phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của anh B.

Tại khoản 8 Điều 10 Thông tư 35/2014/TT-BCA quy định:“Người đứng tên chủ hộ có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho những người cùng có tên trong sổ hộ khẩu được sử dụng sổ để giải quyết các công việc theo quy định của pháp luật. Trường hợp cố tình gây khó khăn, không cho những người cùng có tên trong sổ hộ khẩu được sử dụng sổ để giải quyết các công việc theo quy định của pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.”

Vì vậy, để giải quyết trường hợp này bạn cần xinsự giúp đỡ của chính quyền địa phương đặc biệt là công an phường, xã nơi bạn đang có tên trong sổ hộ khẩu để giải quyết. Khi trình bày bạn nên đưa những chứng cứ chứng minh (như ghi âm, ghi hình) việc chủ hộ khẩu gây khó khăn trong việc tách khẩu, đồng thời đưa bản án, quyết định công nhận ly hôn của tòa án để công an có phương án giải quyết phù hợp.

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP
Hỏi:
Tôi là Nguyễn Ngọc Khánh V, là nhân viên nhà hàng tại Công ty cổ phần cáp treo BN – chi nhánh khu du lịch và biệt thự nghỉ dưỡng Làng Pháp. Nơi làm việc: thôn An Sơn, xã Hòa Ninh, huyện HV, thành phố ĐN. Ngày 01/3/2017, tôi có ký hợp đồng không xác định thời hạn với công ty. Ngày15/3/2020, do ảnh hưởng của đại dịch Covid nên tôi bị công ty cho nghỉ việc.Đến ngày 01/4/2020, tôi đã làm hồ sơ để xin được hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm dịch vụ việc làm ĐN. Đến nay, tôi vẫn chưa tìm được việc làm mới và tôi cũng không biết mình có được hưởng trở cấp thất nghiệp hay không. Nay tôi muốn hỏi luật sư: Điều kiện và mức được hưởng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định pháp luật là gì?Trong trường hợp này, tôi có được hưởng bảo hiểm thất nghiệp không? Và mức hưởng là bao nhiêu?
Người gửi: Nguyễn Ngọc Khánh V - Thành phố Huế (Ngày gửi: 26/05/2020)
Đáp:
 1.      Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp (Điều 49 Luật việc làm 2013)

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật việc làm 2013 đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Chấm dứt hợp động lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây: người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật việc làm 2013; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại diểm c khoản 1 Điều 43 của Luật việc làm 2013.

- Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật việc làm 2013;

- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

+ Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

+ Đi học tập có thười gian từ đủ 12 tháng trở lên;

+ Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

+ Bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù;

+ Ra nước ngoài định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

+ Chết.

2. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau (tại khoản 1 Điều 50 Luật việc làm 2013):

- Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp động lao động hoặc hợp đồng làm việc.

- Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó cứ đóng thêm đủ 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

Như vậy, đối chiếu với các quy định trên thì bạn có đủ điều kiện để được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của pháp luật. Và mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định pháp luật. Do bạn đóng bảo hiểm thất nghiệp được 03 năm 15 ngày nên số tháng mà bạn được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).
 
BỒI THƯỜNG THÊM LÔ ĐẤT TÁI ĐỊNH CƯ
Hỏi:
Tôi là Nguyễn Thị Thu T, có hộ khẩu thường trú tại thôn LX, xã TT, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế. Năm 2008, vợ chồng tôi được UBND thị xã HT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thông tin như sau: Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 45, diện tích: 850m2 mục đích sử dụng: đất ở và một căn nhà ở cấp 4, tường bê tông cốt thép, mái lợp tôn, diện tích xây dựng 200m2 tọa lạc tại địa chỉ thường trú nêu trên. Ngày 05/05/2020, UBND thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế có ra thông báo về việc thu hồi toàn bộ diện tích đất nêu trên của tôi để làm dự án Khu đô thị mới kèm theo đó là bảng dự kiến bố trí bồi thường cho gia đình tôi. Trong đó, gia đình tôi chỉ được bồi thường giá trị căn nhà là 250 triệu đồng và một suất đất tại Khu tái định cư BV ở thôn LX, xã TT, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế với diện tích là 200m2, mặt tiền 13m. Nay tôi muốn hỏi luật sư: Trong trường hợp này, việc UBND thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế đã thu hồi toàn bộ diện tích đất của tôi là 850m2 nhưng chỉ bồi thường 01 lô tái định cư với diện tích 200m2 thì có đúngquy định pháp luật không? Tôi có quyền yêu cầu bồi thường thêm 01 suất tái định cư không? Tôi xin cảm ơn.
Người gửi: Nguyễn Thị Thu T - Quảng Bình (Ngày gửi: 26/05/2020)
Đáp:
 Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

Tại điểm a khoản 1 Điều 9 Quyết định số 37/2018/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế quy định:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở, không đủ điều kiện để được cấp phép xây dựng nhà ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng việc giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư;

Tại điểm a khoản 3 Điều 24 Quyết định 37/2018/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế:

“3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi nhà nước thu hồi đất ở, được bồi thường về đất theo khoản 1 Điều 9 của Quy định này mà có đất ở bị thu hồi lớn hơn hạn mức giao đất ở thì Ủy ban nhân dân cấp Huyện căn cứ vào quỹ đất và tình hình thực tế của địa phương để xem xét, quyết định giao thêm một phần diện tích đất ở cho người bị thu hồi theo nguyên tắc sau:

a) Diện tích thu hồi từ 02 đến nhỏ hơn 03 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương thì được giao thêm 01 lô đất tái định cư;”

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế:

“Điều 3. Hạn mức giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân

3. Các xã đồng bằng là: 400m2;”

Đối chiếu với các quy định trên, xác định hạn mức giao đất tại thôn LX, xã TT, thị xã HT, tỉnh Thừa Thiên Huế cho cá nhân là 400m2 và việc UBND huyện HT, tỉnh Thừa Thiên Huế có thông báo thu hồi toàn bộ diện tích đất ở của gia đình bạn là 850m2 nhưng chỉ ra phương án bồi thường cho gia đình bạn 01 lô đất tái định cư với diện tích là 200m2 là không phù hợp với quy định pháp luật và ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình bạn.

Trong trường hợp này bạn có quyền làm đơn kiến nghị gửi đến cơ quan có thẩm quyết để yêu cầu bồi thường thêm cho gia đình bạn 01 lô đất tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền cho gia đình bạn căn cứ vào quỹ đất và tình hình thực tế tại địa phương.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).
 
ĐIỀU KIỆN MUA NHÀ Ở XÃ HỘI
Hỏi:
Tôi là Nguyễn Thị T, tạm trú tại số 23 đường P, phường K, thành phố H, tỉnh TTH. Tôi là viên chức đang giảng dạy tại một trường THPT – đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn thành phố H. Tôi đang dự định mua một căn hộtại dự án nhà ở xã hộiđang xây dựng trên địa bàn thành phố H, tỉnh TTH. Tuy nhiên, theo tôi được biết thì việc mua căn hộ thuộc dự án nhà ở xã hội thì phải đáp ứng điều kiện là đang thường trú tại thành phố nơi có nhà ở xã hội, nhưng tôi chỉ có giấy tạm trú ở thành phố H. Tôi muốn hỏi luật sư: Việc tôi không có hộ khẩu thường trú tại thành phố H, tỉnh TTH thì có được quyền mua nhà ở xã hộikhông? Đối tượng và điều kiện để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội theo quy định pháp luật là gì?
Người gửi: Nguyễn Thị T - Thành phố Huế (Ngày gửi: 26/05/2020)
Đáp:
 

Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

1. Về đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội (theo Điều 49 Luật nhà ở 2014)

- Người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng;

- Hộ gia đình nghèo và cận nghèo tại khu vực nông thôn;

- Hộ gia đình tại khu vực nông thôn thuộc vùng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu;

- Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị;

- Người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp;

- Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân;

- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

- Các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ theo quy định tại khoản 5 Điều 81 của Luật này;

- Học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề; học sinh trường dân tộc nội trú công lập được sử dụng nhà ở trong thời gian học tập;

- Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở.

2. Về điều kiện để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội(theo Điều 51 Luật nhà ở 2014)

- Chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình, chưa được mua, thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội;

- Chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở dưới mọi hình thức tại nơi sinh sống, học tập hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người trong hộ gia đình thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu do Chính phủ quy định theo từng thời kỳ và từng khu vực;

- Phải có đăng ký thường trú tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có nhà ở xã hội.

Trường hợp không có đăng ký thường trú thì phải có đăng ký tạm trú từ một năm trở lên tại tỉnh, thành phố này, trừ trường hợp học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề; học sinh trường dân tộc nội trú công lập được sử dụng nhà ở trong thời gian học tập;

- Đối với đối tượng là người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo tại khu vực đô thị, người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp, sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân và quân đội nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức theo quy dịnh tại pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức thì phải thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân;

- Trường hợp là hộ nghèo, cận nghèo thì phải thuộc diện nghèo, cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

- Đối với các đối tượng là người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, các đối tượng đã trả lại nhà ở theo quy định pháp luật, học sinh, sinh viên các học viện, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, học sinh trường dân tộc nội trú công lập được sử dụng nhà ở trong thời gian học tập,  hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và phải giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở thì không yêu cầu phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định tại điểm này.

Như vậy, đối chiếu với các quy định trên, xác định chị là viên chức vàchưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình, chưa được mua, thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội, chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở dưới mọi hình thức tại nơi sinh sống hoặc có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích nhà ở bình quân đầu người trong hộ gia đình thấp hơn mức diện tích nhà ở tối thiểu do Chính phủ quy định theo từng thời kỳ và từng khu vực, chị không thuộc trường hợp phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân và chị có đăng ký tạm trú tại thành phố H, tỉnh TTH – nơi có nhà ở xã hội từ một năm trở lên thì đáp ứng đủ điều kiện hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).

THỦ TỤC ĐĂNG KÝ BỔ SUNG TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT VÀO GIẤY CHỨNG NHẬN
Hỏi:
Tôi là Hồ Văn Đ, hộ khẩu thường trú tại 34 đường KH, phường Y, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Năm 2015, tôi có nhận chuyển nhượng một thửa đất của anh Võ Văn K, với thông tin thửa đất như sau: thửa đất số 23, tờ bản đồ số 11, diện tích: 100m2, mục đích: đất ở tại đô thị, tọa lạc tại 11 đường LTT, phường TL, thành phố Huế. Năm 2016 tôi có xây dựng trên đất một căn nhà cấp 4, diện tích xây dựng: 90m2, kết cấu: trụ bê tông cốt thép, mái lợp ngói. Nay tôi muốn bổ sung thông tin căn nhà vào trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tôi cần thực hiện các thủ tục gì? Tôi xin cảm ơn
Người gửi: Hồ Văn Được - Thành phố Huế (Ngày gửi: 15/05/2020)
Đáp:
 

Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

Trường hợp của bạn phải làm thủ tục bổ sung tài sản gắn liền với đất vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp. Thủ tục bổ sung tài sản gắn liền với đất vào Giấy chứng nhận đã cấp như sau:

1. Hồ sơ (thông tư 33/2017/TT-BTNMT)

Khi đăng ký bổ sung đối với tài sản gắn liền với đất của người sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận gồm có:

- Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Mẫu số 04a/ĐK;

- Giấy phép xây dựng nhà ở đối với trường hợp phải xin giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng.

Trường hợp nhà ở đã xây dựng không đúng với giấy phép xây dựng được cấp thì phải có ý kiến bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp phép xây dựng xác nhận diện tích xây dựng không đúng giấy phép không ảnh hưởng đến an toàn công trình và nay phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

Trường hợp cá nhân trong nước không có giấy phépxây dựng thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở đã hoàn thành xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006, được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật. Trường hợp nhà ở hoàn thành xây dựng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 trở về sau thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở không thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng và đáp ứng điều kiện về quy hoạch như trường hợp nhà ở xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006; trường hợp nhà ở thuộc đối tượng phải xin phép xây dựng mà không xin phép thì phải có giấy tờ của cơ quan quản lý về xây dựng cấp huyện chấp thuận cho tồn tại nhà ở đó.

- Sơ đồ về tài sản gắn liền với đất (trừ trường hợp trong giấy tờ về quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã có sơ đồ tài sản phù hợp với hiện trạng);

- Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp chứng nhận bổ sung quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;

- Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; giấy tờ liên quan đến miễn, giảm nghĩa vụ tài chính về tài sản gắn liền với đất (nếu có);

- Văn bản chấp thuận của người sử dụng đất đồng ý cho xây dựng công trình đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật và bản sao giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai đối với trường hợp chủ sở hữu công trình không đồng thời là người sử dụng đất.

2. Trình tự thủ tục thực hiện(Nghị định 43/2014/NĐ-CP)

Bước 1: Người sử dụng đất nộp hồ sơ tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả của UBND cấp huyện.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có nhu cầu nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân nhân dân cấp xã thì UBND cấp xã nơi có đất tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả.

Trường hợp nhận hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì trong thời gian tối đa 03 ngày, cơ quan tiếp nhận, xử lý hồ sơ phải thông báo và hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định.

Bước 2:  Cơ quan tiếp nhận ghi đầy đủ thông tin vào Sổ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả, trao Phiếu tiếp hồ sơ và trả kết quả cho người nộp hồ sơ.

Bước 3: Trường hợp người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân, cộng động dân cư thực hiện nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thì chi nhánh có trách nhiệm gửi hồ sơ về UBND cấp xã để lấy ý kiến đối với tài sản gắn liền với đất.

Kiểm tra hồ sơ đăng ký, xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận vào đơn đăng ký.

Gửi phiếu lấy ý kiến cơ quan quản lý nhà nước đối với loại tài sản đăng ký đối với trường hợp chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không có giấy tờ hoặc hiện trang tài sản có thay đổi so với giấy tờ theo quy định.

Gửi số liệu địa chính cơ quan thuế để xác định và thông báo thu nghĩa vụ tài chính (trừ trường hợp không thuộc đối tượng phải nộp nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ theo quy định của pháp luật); chuẩn bị hồ sơ để cơ quan tài nguyên và môi trường trình ký cấp Giấy chứng nhận.

Nhận Giấy chứng nhận từ cơ quan tài nguyên và môi trường sau đó thực hiện cập nhật thông tin thửa đất, tài sản gắn liền với đất, đăng ký vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai (nếu có); Trao Giấy chứng nhận cho người được cấp đã nộp chứng từ hoàn thành nghĩa vụ tài chính hoặc chuyển kết quả đã giải quyết (Giấy chứng nhận) cho UBND cấp xã để trao Giấy chứng nhận cho người được cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp nộp hồ sơ tại UBND cấp xã.

Xác nhận vào bản chính giấy tờ việc cấp Giấy chứng nhận theo quy định.

3. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết(Nghị định 43/2014/NĐ-CP)

- Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Sở Tài nguyên và Môi trường.

- Cơ quan trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính: Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đối với trường hợp người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

- Cơ quan phối hợp: Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, công trình xây dựng, nông nghiệp, cơ quan thuế, Phòng tài nguyên và môi trường, Sở tài nguyên và môi trường.

4. Thời hạn giải quyết(Nghị định 01/2017/NĐ-CP)

Thời hạn giải quyết là 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ (không bao gồm thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sở hữu tài sản).

Kết quả giải quyết thủ tục hành chính phải trả cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả giải quyết.

CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN
Hỏi:
Tôi là Nguyễn Thu H, địa chỉ thường trú tại số 45 đường HQ, phường AD, thành phố H, tỉnh TTH. Năm 2015 tôi có đăng ký kết hôn với anh Lê Văn C. Trong quá trình sinh sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh C thường xuyên đánh đập tôi. Nay cả hai vợ chồng đều muốn ly hôn và đã thỏa thuận được về vấn đề nuôi con chung. Tuy nhiên, cả hai đều không thống nhất về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng. Cụ thể: trong quá trình chung sống, chúng tôi có tạo lập được một tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 13, tờ bản đồ số 01, diện tích: 200m2 đất ở tọa lạc tại địa chỉ số 45 đường HQ, phường AD, thành phố H, tỉnh TTH và nhà ở gắn liền với đất là nhà cấp 4, trụ bê tông cốt thép, lợp ngói với diện tích xây dựng là 150m2; 01 xe ô tô Mazda cx-5. Bên cạnh đó, vào năm 2018, cha mẹ của tôi có làm thủ tục tặng cho tôi 100m2 quyền sử dụng đất tại địa chỉ số 36 đường PCT, phường AC, thành phố H và tôi cũng làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên một mình tôi. Nay ly hôn thì chồng tôi lại đòi chia đôi tất cả tài sản, trong đó có quyền sử dụng đất riêng của tôi. Anh ấy nói rằng đó là tài sản do tôi được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của vợ chồng. Tôi muốn hỏi luật sư: theo quy định của pháp luật thì khối tài sản trên sẽ được chia như thế nào? Tài sản do cha mẹ tặng riêng cho tôi trong thời kỳ hôn nhân có phải là tài sản chung của vợ chồng không? Tôi xin cảm ơn
Người gửi: ThuHoai@ - Thành phố Huế (Ngày gửi: 15/05/2020)
Đáp:
 

Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

“1. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và có thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Đối chiếu với quy định pháp luật trên thì xác định tài sản chung của vợ chồng bạn là tài sản được tạo lập ra trong thời kỳ hôn nhân chỉ gồm: 01 xe ô tô Mazda CX-5 và quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa số số 13, tờ bản đồ số 01, diện tích: 200m2đất ở tọa lạc tại địa chỉ số 45 đường HQ, phường AD, thành phố H, tỉnh TTH và nhà ở gắn liền với đất là nhà cấp 4, trụ bê tông cốt thép, lợp ngói, diện tích xây dựng là 150m2.

Tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định pháp luật thuộc sở hữu của vợ chồng.”

Đối chiếu với quy định pháp luật trên, việc chồng của bạn cho rằng tài sản mà bạn được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng là không đúng với quy định của pháp luật. Mà phải xác định quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 34, tờ bản đồ số 11, diện tích: 100m2, tọa lạc tại số 36 đường PCT, phường AC, thành phố H là tài sản riêng của bạn mới phù hợp với quy định của pháp luật.

   Về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì do các bên tự thỏa thuận, trong trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng bạn sẽ được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như: hoàn cảnh gia đình của vợ chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của các bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

“4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trỗn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.”

Đối chiếu với quy định trên, khi ly hôn thì tài sản riêng của bạn vẫn thuộc về bạn và anh C không có quyền yêu cầu chia tài sản riêng của bạn trừ trường hợp bạn đã nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

HỢP PHÁP HÓA BẢN ÁN LY HÔN Ở NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Hỏi:
Tôi là Nguyễn Nhã N, sinh năm 1980. Năm 2005, tôi có đăng ký kết hôn với anh Daniel Jame, người có quốc tịch Anh. Tháng 2/2020 tôi hoàn tất thủ tục ly hôn với anh Daniel Jame và trở về Việt Nam để sinh sống. Tôi muốn hỏi luật sư: Bản án ly hôn của tôi và chồng cũ ở nước ngoài có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam không? Muốn bản án có hiệu lực tại Việt Nam tôi phải làm những thủ tục gì? Tôi xin cám ơn.
Người gửi: NhaNguyen@ - TP Đà Nẵng (Ngày gửi: 15/05/2020)
Đáp:
 Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 111/2011/NĐ-CP

“2. Hợp pháp hóa lãnh sự là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chứng nhận con dấu, chữ ký, chức danh trên giấy tờ, tài liệu của nước ngoài để giấy tờ, tài liệu đó được công nhận và sử dụng tại Việt Nam.”

Tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 111/2011/NĐ-CP:

“2. Để được công nhận và sử dụng tại Việt Nam, các giấy tờ, tài liệu của nước ngoài được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường quy định tại Điều 9 Nghị định này.

Điều 9. Các giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự

1. Giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước ngoài liên quan đều là thành viên, hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.

2. Giấy tờ, tài liệu được chuyển giao trực tiếp hoặc qua đường ngoại giao giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.

3. Giấy tờ, tài liệu được miễn chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam.

4. Giấy tờ, tài liệu mà cơ quan tiếp nhận của Việt Nam hoặc của nước ngoài không yêu cầu phải hợp pháp hóa lãnh sự, chứng nhận lãnh sự phù hợp với quy định pháp luật tương ứng của Việt Nam hoặc của nước ngoài.”

Đối chiếu với các quy định trên, để bản án ly hôn của bạn ở nước ngoài được công nhận và sử dụng tại Việt Nam thì phán quyết đó phải được hợp pháp hóa lãnh sự.

Về thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự tại Bộ ngoại giao được quy định như sau:

1.Hồ sơ gồm (Điều 14Nghị định 111/2011/NĐ-CP)

a) 01 Tờ khai hợp pháp hóa lãnh sự theo mẫu quy định;

b) Xuất trình bản chính giấy tờ tùy thân đối với trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp (chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc các giấy tờ có giá trị thay thế);

c) 01 bản chụp giấy tờ tùy thân đối với trường hợp nộp hồ sơ qua đường bưu điện;

d) Giấy tờ, tài liệu đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự, đã được cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước ngoài chứng nhận;

đ) 01 bản dịch giấy tờ, tài liệu đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự sang tiếng Việt hoặc tiếng Anh, nếu giấy tờ, tài liệu đó không được lập bằng các thứ tiếng trên;

e) 01 bản chụp các giấy tờ, tài liệu nêu tại điểm d và điểm đ để lưu tại Bộ Ngoại giao.

2.Thời hạn giải quyết (khoản 5 Điều 1 Nghị định số 111/2011/NĐ-CP)

01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp hồ sơ có số lượng từ 10 giấy tờ, tài liệu trở lên thì thời hạn giải quyết có thể dài hơn nhưng không quá 05 ngày làm việc.

Trường hợp cần kiểm tra tính xác thực của giấy tờ, tài liệu đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự, cán bộ tiếp nhận hồ sơ có thể yêu cầu người đề nghị hợp pháp hóa lãnh sự xuất trình bổ sung bản chính giấy tờ, tài liệu có liên quan và nộp 01 bản chụp giấy, tài liệu này để lưu tại Bộ Ngoại giao.

Bộ Ngoại giao thực hiện hợp pháp hóa lãnh sự trên cơ sở đối chiếu con dấu, chữ ký và chức danh trong chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trên giấy tờ, tài liệu với mẫu con dấu, mẫu chữ ký và chức danh đã được nước đó chính thức thông báo cho Bộ Ngoại giao.

Trường hợp chữ ký, con dấu và chức danh của cơ quan và người có thẩm quyền của nước ngoài trong hồ sơ đề nghị được hợp pháp hóa lãnh sự chưa được chính thức thông báo hoặc cần kiểm tra tính xác thực, Bộ Ngoại giao đề nghị cơ quan này xác minh. Ngay sau khi nhận được kết quả xác định, Bộ Ngoại giao giải quyết hồ sơ và trả kết quả cho đương sự.

3. Cơ quan có thẩm quyền(Khoản 1 Điều 1 Thông tư 01/2012/TT-BNG)

Cục Lãnh sự và Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan của Bộ Ngoại giao được giao thẩm quyền chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự ở trong nước.

4. Lệ phí (Điều 1 Thông tư số 98/2011/TT-BTC)

Lệ phí thực hiện: 30.000 đồng/lần
 
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI
Hỏi:
Tôi là Nguyễn Thị H, có hộ khẩu thường trú tại số 23, đường LN, phường H, thành phố HD. Tôi chuẩn bị đăng ký kết hôn với bạn trai là người có quốc tịch Anh. Nay tôi muốn hỏi về điều kiện, trình tự thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài được pháp luật quy định như thế nào? Mong luật sư tư vấn.
Người gửi: Hoalan@ - Quảng Bình (Ngày gửi: 04/05/2020)
Đáp:
  Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

1. Điều kiện đăng ký kết hôn(Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014).

+ Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

+ Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

+ Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

+ Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

Tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

“2. Cấm các hành vi sau đây:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;”

2. Cơ quan có thẩm quyền

Ủy ban nhân dân cấp Huyện(Điều 37 Luật Hộ tịch 2014).

3. Trình tự thủ tục(Theo quy định của Nghị định 123/2015/NĐ-CP)

Bước 1: Người có yêu cầu đăng ký kết hôn (một bên nam hoặc nữ có thể trực tiếp nộphồ sơ mà không cần văn bản ủy quyền của bên còn lại) nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân cấp Huyện nơi người đăng ký kết hôn cư trú.

Bước 2: Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính hợp lệ và đẩy đủ các giấy tờ:

+ Trường hợp hồ sơ hợp lệ và đầy đủ theo quy định thì cấp Giấy Biên nhận;

+ Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ thì hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung hoàn thiện hồ sơ theo quy định. Trường hợp không bổ sung, hoàn thiện hồ sơ ngay thì phải lập văn bản hướng dẫn, trong đó nêu rõ loại giấy tờ, nội dung cần bổ sung, hoàn thiện, ký và ghi rõ họ tên người tiếp nhận hồ sơ;

+ Trong trường hợp hồ sơ không được bổ sung, hoàn thiện theo hướng dẫn thì người tiếp nhận hồ sơ từ chối tiếp nhận hồ sơ. Việc từ chối tiếp nhận hồ sơ phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó ghi rõ lý do từ chối, người tiếp nhận ký và ghi rõ họ tên.

Bước 3: Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Phòng Tư pháp tiến hành nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ và xác minh nếu thấy cần thiết;

Nếu hồ sơ hợp lệ, các bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, không thuộc trường hợp từ chối đăng ký kết hôn theo quy định, Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp Huyện xem xét và quyết định. Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân đồng ý thì ký 02 bản chính Giấy chứng nhận kết hôn;

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn, Phòng Tư pháp tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ.

Bước 4: Khi đăng ký kết hôn cả hai bên nam, nữ phải có mặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp Huyện, công chức làm công tác hộ tịch hỏi ý kiến hai bên nam nữ, nếu các bên tự nguyện kết hôn thì ghi việc kết hôn vào Sổ đăng ký kết hôn, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn;

Trường hợp một hoặc hai bên nam, nữ không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì theo đề nghị bằng văn bản của họ, Phòng Tư pháp gia hạn thời gian trao Giấy chứng nhận kết hôn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày Chủ tịch Ủy bản nhân dân cấp Huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn. Hết 60 ngày mà hai bên nam, nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã đăng ký;

Nếu sau đó hai bên, nữ vẫn muốn kết hôn với nhau thì phải tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn từ đầu.

4. Lệ phí

1.200.000 đồng/trường hợp. Miễn lệ phí đối với người thuộc hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, người thuộc gia đình có công với cách mạng (Theo quyết định số 26/2017/QĐ-UBND quyết định quy định mức thu, nộp lệ phí hộ tịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế).

5. Hồ sơ(Theo quy định của Luật Hộ tịch 2014 và Nghị định 123/2015/NĐ-CP)

+ Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu, có đủ thông tin của hai bên nam, nữ. Hai bên nam, nữ có thể khai chung vào một Tờ khai đăng ký kết hôn;

+ Giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài là giấy do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp còn giá trị sử dụng xác nhận hiện tại người đó không có vợ hoặc không có chồng; trường hợp nước ngoài không cấp xác nhận tình trạng hôn nhân thì thay bằng giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài xác nhận người đó có đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật nước đó.

Nếu giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài không ghi thời hạn sử dụng thì giấy tờ này và giấy xác nhận của tổ chức y tế theo quy định tại khoản 1 Điều 38 của Luật Hộ tịch có giá trị 06 tháng, kể từ ngày cấp;

+ Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam cư trú trong nước;

+ Giấy tờ xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận các bên kết hôn không mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;

+ Người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phải nộp bản sao hộ chiếu/giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu hoặc xuất trình bản hộ chiếu/ giấy tờ có giá trị thay thế hộ chiếu trong trường hợp trực tiếp nộp hồ sơ.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).

BỒI THƯỜNG CHI PHÍ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI VIÊN CHỨC
Hỏi:
Tôi là Trần Lương S, là một bác sỹ đa khoa làm việc tại Bệnh viện Y– là một đơn vị sự nghiệp công lập trên thành phố H, tỉnh TTH. Năm 2015, tôi ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Bệnh viện. Tháng 1/2016 tôi được Bệnh viện ra quyết định cử cán bộ đi học lớp chuyên khoa ngành ung thư vú trong thời gian 02 năm. Trong quá trình đi học, tôi vẫn tiếp tục làm việc tại Bệnh viện. Tôi đã ký cam kết, sau khi hoàn thành khóa đào tạo tôi phải làm việc cho Bệnh viện tối thiểu là 05 năm. Sau khi kết thúc khóa đào tạo tôi tiếp tục làm việc cho Bệnh viện tháng 3/2020. Vì lý do cá nhân nên tôi không thể tiếp tục làm việc ở Bệnh viện được nữa, do đó tôi đã có đơn xin nghỉ việc gửi đến Ban giám đốc Bệnh viện. Phía ban Giám đốc không đồng ý cho tôi nghỉ việc và có thông báo nếu tôi nghỉ việc thì phải bồi thường toàn bộ chi phí đào tạo mà Bệnh viện đã bỏ ra cho tôi đi học trong đó bao gồm học phí, tiền lương, tiền thưởng và các khoản chi phí khác trong thời gian đi học tương ứng với thời gian làm việc còn thiếu theo cam kết. Tôi muốn hỏi luật sư: Trước khi nghỉ làm, tôi đã thông báo trước cho Bệnh viện 45 ngày theo quy định. Như vậy, tôi có phải chịu bồi thường chi phí đào tạo như Bệnh viện đã thông báo không? Việc Bệnh viện không chịu giải quyết chế độ thôi việc cho tôi có đúng pháp luật hay không? Tôi xin cám ơn.
Người gửi: LuongS@ - Quảng Bình (Ngày gửi: 04/05/2020)
Đáp:
 Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

1. Về vấn đề đền bù chi phí đào tạo

Theo quy định tại Điều 2 Luật viên chức 2010:

“Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.”

Tại khoản 4 Điều 29 Luật viên chức 2010 quy định:

“4. Viên chức làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập biết trước ít nhất 45 ngày; trường hợp viên chức ốm đau hoặc bị tai nạn đã điều trị 06 tháng liên tục thì phải báo trước ít nhất 03 ngày.”

Đối chiếu với các quy định trên, trong trường hợp này xác định bạn là viên chức làm việc cho đơn vị sự nghiệp công lập nên căn cứ vào các quy định của Luật viên chức và các văn bản liên quan để xác định trách nhiệm bồi thường của viên chức đối với đơn vị sử dụng lao động trong trường hợp viên chức có vi phạm để giải quyết.

Tại khoản 3 Điều 35 Luật viên chức 2010:

“3. Viên chức được đơn vị sự nghiệp công lập cử đi đào tạo nếu đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc tự ý bỏ việc phải đền bù chi phí đào tạo theo quy định của chính phủ.”

Tại điểm c khoản 4 Điều 36 Nghị định 29/2012/NĐ-CP quy định:

“4. Viên chức được cử đi đào tạo ở trong nước và ngoài nước phải đền bù chi phí đào tạo trong các trường hợp sau:

c) Viên chức đã hoàn thành và được cấp bằng tốt nghiệp khóa học từ trình độ trung cấp trở lên nhưng chưa phục vụ đủ thời gian theo cam kết quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều này.”

Tại điểm b, khoản 2 Điều 36 Nghị định 29/2012/NĐ-CP:

“2. Điều kiện để viên chức được cử đi đào tạo:

b) Có cam kết thực hiện nhiệm vụ, hải quan nghề nghiệp tại đơn vị sự nghiệp công lập sau khi hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian ít nhất gấp 2 lần thời gian đào tạo.”

Đối chiếu với các quy định trên, việc bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, mặc dù đã đáp ứng đúng về thời gian báo trước nhưng bạn vẫn phải chịu đền bù chi phí đào tạo do chưa thực hiện đủ thời gian đã cam kết với Bệnh viện.

Trong trường hợp này, việc Bệnh viện yêu cầu bạn phải bồi thường toàn bộ chi phí bao gồm học phí, tiền lương, tiền thưởng và các khoản chi phí khác trong thời gian đi học tương ứng với thời gian làm việc còn thiếu theo cam kết là không đúng với quy định của pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Thông tư 15/2012/TT-BNV thì chi phí đền bù mà bạn phải trả cho Bệnh viện chỉ bao gồm học phí và tất cả các khoản chi phí khác phục vụ cho khóa học, không tính tiền lương và các khoản phụ cấp.

Chi phí đền bù trong trường hợp này được tính theo công thức sau:

S = (F / T1) x (T1 - T2)

Trong đó:

- S là chi phí đền bù;

- F là tổng chi phí của khóa học;

- T1 là thời gian yêu cầu phải phục vụ sau khi đã hoàn thành khóa học (hoặc các khóa học) được tính bằng số tháng làm tròn;

- T2 là thời gian đã phục vụ sau đào tạo được tính bằng số tháng làm tròn.

2. Về vấn đề giải quyết chế độ thôi việc

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 38 Nghị định 29/2012/NĐ-CP:

“2. Viên chức chưa được giải quyết thôi việc nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

b) Chưa làm việc đủ thời gian cam kết với đơn vị sự nghiệp công lập khi được cử đi đào tạo hoặc khi được xét tuyển.”

Đối chiếu với quy định pháp luật trên, do bạn chưa làm việc đủ thời gian như đã cam kết nên Bệnh viện chưa giải quyết thôi việc cho bạn là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).
 
BỒI THƯỜNG CHI PHÍ ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG
Hỏi:
Tôi là Nguyễn Mỹ A, là một giáo viên dạy tiếng Anh tại Trung tâmAnh ngữ X –thuộc công ty TNHH MTV Y trên thành phố H, tỉnh TTH. Năm 2015, tôi ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Trung tâm. Tháng 1/2016 tôi được Trung tâm cho đi đào tạo ở nước Anh trong vòng 02 năm. Tôi đã ký cam kết, sau khi hoàn thành khóa đào tạo tôi phải trở lại làm việc cho Trung tâm tối thiểu là 05 năm, nếu vi phạm tôi phải bồi thường cho Trung tâm gấp 02 lần chi phí đào tạo. Sau khi kết thúc khóa đào tạo tôi quay về làm việc cho Trung tâm kể từ tháng 2/2018. Đầu tháng 3/2020, vì lý do cá nhân nên tôi không thể tiếp tục làm việc ở Trung tâm, do đó tôi đã có đơn xin nghỉ việc gửi đến Ban giám đốc Trung tâm. Phía ban Giám đốc không đồng ý cho tôi nghỉ việc và có thông báo nếu tôi nghỉ việc thì phải bồi thường như đã cam kết. Theo tôi tìm hiểu thì chỉ có các trường hợp phải hoàn trả chi phi đào tạo là khi người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật mới phải hoàn trả. Nhưng tôi đã thông báo việc nghỉ làm trước cho Trung tâm Anh ngữ trước 30 ngày.Như vậy tôi có phải chịu trách nhiệm bồi thường chi phí đào tạo như Trung tâm đã thông báo không? Tôi xin cám ơn.
Người gửi: Mỹ A - Thành phố Huế (Ngày gửi: 04/05/2020)
Đáp:
 Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức 2008:

“2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị -xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.”

Theo quy định tại Điều 2 Luật viên chức 2010:

“Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.”

Đối chiếu với các quy định trên, xác định bạn không phải là công chức hay viên chức nên thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật lao động.           

Tại khoản 3 Điều 37 Bộ luật lao động 2012 có quy định:

“3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

Tại Điều 156 Bộ luật lao động 2012 quy định:

“Điều 156. Quyền đơn phương chấm dứt, tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động nữ mang thai

Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Thời hạn mà lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động tùy thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.”

Tại Điều 41 Bộ luật lao động 2012 quy định:

“Điều 41. Đơn phương chấm dứt hợp động lao động trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này.”

Tại khoản 3 Điều 43 Bộ luật lao động 2012:

“Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp động lao động trái pháp luật

….

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”

Tại khoản 3 Điều 62 Bộ luật lao động 2012 quy định:

“3. Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài.”

Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự 2015:

“Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.”

Đối chiếu với các quy định pháp luật trên, khi ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn thìkhi đơn phương chấm dứt lao động, bạn phải thông báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất là 45 ngày. Trong trường hợp này, bạn chỉ thông báo trước cho Trung tâm Anh ngữ X là 30 ngày nên bạn thuộc trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, do đó bạn có trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo cho Trung tâm Anh ngữ X.

Bên cạnh đó, việc bạn thỏa thuận với Trung tâm Anh ngữ X sau khi hoàn thành khóa đào tạo thì phải làm việc cho Trung tâm tối thiểu là 05 năm và nếu vi phạm thì phải bồi thường cho Trung tâm gấp 02 lần chi phí đào tạo là hoàn toàn tự nguyện và không trái với quy định của pháp luật. Vì vậy, bạn phải bồi thường cho Trung tâm gấp 02 lần chi phí đào tạo như đã thỏa thuận.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).
 
BỒI THƯỜNG TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở
Hỏi:
Tôi là Võ Hồng T, thường trú tại số 56 đường LL, phường VN, thành phố H, tỉnh TTH. Tôi được cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào năm 2014 với thông tin thửa đất như sau: Thửa đất số: 34, tờ bản đồ số 13, diện tích: 150m2, mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị. Tài sản gắn liền với đất là nhà ở cấp 4, xây dựng bằng trụ bê tông cốt thép, mái lợp ngói, diện tích xây dựng: 150m2, tọa lạc tại địa chỉ 56 đường LL, phường VN, thành phố H, tỉnh TTH. Nay tôi biết được thông tin là đất của tôi sẽ bị thu hồi để làm khu tái định cư, tôi không còn đất ở hay bất cứ ở nhà nào khác thì được đền bù như thế nào? Tôi có một đứa con trai lớn đã lập gia đình và tách hộ khẩu riêng nhưng cũng chưa có nhà ở thì có được Nhà nước hỗ trợ gì thêm không? Kính mong Quý văn phòng Luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin cám ơn.
Người gửi: HT - TP Đà Nẵng (Ngày gửi: 29/04/2020)
Đáp:
 Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định khoản 1 Điều 75 Luật đất đai 2013:

“1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hằng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư nước ngoài thuộc trường hợp được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.”

Tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định:

“Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở tại quy định Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau khi thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;

b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau khi thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem để bồi thường bằng đất ở.

2. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình hình thực tế tại địa phương quy định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.”

Tại Điều 9 Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định:

“Việc bồi thường đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại khoản 2 Điều 89 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Mức bồi thường nhà, công trình bằng tổng giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỉ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình đó.

Giá trị có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định bằng (=) tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân (x) với giá trị xây dựng nhà mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành.

Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng mức bồi thường không quá 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại.”

Như vậy, đối chiếu với các quy định pháp luật trên, trong trường hợp gia đình ông bị Nhà nước thu hồi đất ở làm khu tái định cư và ông không còn đất ở hay nhà ở nào khác trong địa bàn phường VN, thành phố H, tỉnh TTH thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư. Đối với công trình là nhà ở gắn liền với đất của hộ gia đình ông khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dở toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật thì ông được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn tương đương.

Bên cạnh đó, gia đình ông có thêm một hộ phụ là đứa con trai của ông đã lập gia đình và đã được cấp sổ hộ khẩu riêng thì Ủy ban nhân dân tỉnh TTH sẽ căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình hình thực tế tại địa phương để cấp đất ở hoặc nhà ở cho gia đình của con trai ông.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).
 
THỪA KẾ ĐẤT ĐAI CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Hỏi:
Tôi là Nguyễn Văn A, hộ khẩu tại số 01 đường TH, phường PH, thành phố H, tỉnh TTH. Cha mẹ tôi có hai người con là tôi và em gái tôi là Nguyễn Thị T. Năm 2010, cha mẹ tôi viết di chúc chung để lại tài sản cho anh em chúng tôi.Nội dung di chúc là để lại cho tôi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 01, tờ bản đồ số 19 tọa lạc tại địa chỉ số 13 đường BT, phường PH, thành phố H, tỉnh TTH và để lại cho em gái tôi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 56 tờ bản đổ 41 tọa lạc tại địa chỉ 66 đường NH, phường VN, thành phố H, tỉnh TTH. Năm 2011 thì cha tôi mất và đến năm 2015 thì mẹ tôi mất.Tuy nhiên, tôi đã qua Úc sống hơn 15 năm nay, đã nhập quốc tịch Úc và không còn quốc tịch Việt Nam. Như vậy, tôi muốn hỏi luật sư: Di chúc mà cha mẹ tôi viết tay có giá trị pháp lý không? Bây giờ, tôi không còn quốc tịch Việt Nam thì có được đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất do được thừa kế không? Trường hợp nếu tôi không được đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì tôi có quyền chuyển nhượng cho người khác không? Tôi xin cám ơn.
Người gửi: Hoailinh@gmail.com - TP Đà Nẵng (Ngày gửi: 24/04/2020)
Đáp:
 

Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành và chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

1. Về giá trị pháp lý của di chúc

Do tại thời điểm mà cha mẹ bạn lập di chúc là năm 2010 nên áp dụng Bộ luật Dân sự 2005 để giải quyết. Theo quy định tại Điều 646 Bộ luật dân sự 2005:

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.”

Về hình thức di chúc được quy định tại Điều 649 Bộ luật dân sự 2005:

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.”

Đối với trường hợp di chúc chỉ được viết tay, không được công chứng, chứng thực thì cần phải đáp ứng đủ các điều kiện (Điều 652 Bộ luật dân sự 2005):

- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép;

- Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái với quy định pháp luật.

Về nội dung của di chúc phải ghi rõ:

- Ngày, tháng, năm lập di chúc;

- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

- Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

- Di sản để lại và nơi có di sản;

- Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ.

Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Đối chiếu với các quy định trên, nếu di chúc của cha mẹ bạn không được công chứng, chứng thực nhưngđáp ứng đủ các điều kiện trên thìdi chúc có giá trị pháp lý. Do cha mẹ bạn lập di chúc chung của hai vợ chồng nên di chúc này sẽ có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết tức là di chúc này sẽ có hiệu lực kể từ thời điểm mẹ bạn chết (theo quy định tại Điều 668 Bộ luật dân sự 2005).

2. Về quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của người nước ngoài khi nhận thừa kế tại Việt Nam

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014:

Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam.”

Tại khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai 2013:

“3. Trường hợp tất cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều này thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng được chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế theo quy định sau đây:

a) Trong trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế được đứng tên là bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất;

b) Trong trường hợp tặng cho quyền sử dụng đất thì người được tặng cho phải là đối tượng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 179 của Luật này và phù hợp với quy định của pháp luật về nhà ở, trong đó người nhận thừa kế được đứng tên là bên tặng cho trong hợp đồng hoặc văn bản cam kết tặng cho;

c) Trong trường hợp chưa chuyển nhượng hoặc chưa tặng cho quyền sử dụng đất thì người nhận thừa kế hoặc người đại diện có văn bản ủy quyền theo quy định nộp hồ sơ về việc nhận thừa kế tại cơ quan đăng ký đất đai để cập nhật vào Sổ địa chính.

Đối chiếu với các quy định trên, vì do bạn là người nước ngoài được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Việt Nam nên bạn sẽ không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Tuy nhiên, bạn vẫn được quyền đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để làm thủ tục chuyển nhượng cho người khác.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).

BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Hỏi:
Tôi là Nguyễn Thị T, có hộ khẩu thường trú tại số 03 đường N, phường PN, thành phố H, tỉnh TTH. Tôi và anh Lê Văn A kết hôn năm 2010. Đến năm 2015, giữa anh A và tôi có nhiều mâu thuẫn, anh A thường xuyên đánh đánh đập, chửi bới thậm tệ tôi. Gần đây nhất, tôi đòi ly hôn thì anh đã dùng ghế đánh vào đầu, khiến tôi phải nhập viện để điều trị. Nhiều lần anh A còn tìm đến chỗ làm của tôi để gây rối, chửi bới, làm nhục tôi trước mặt nhiều người. Tôi muốn hỏi luật sư: Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết những hành vi bạo lực gia đình của anh A?Và anh A sẽ bị xử phạt như thế nào?
Người gửi: Minh Thu - Thành phố Huế (Ngày gửi: 24/04/2020)
Đáp:
 Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

1. Về thẩm quyền giải quyết bạo lực gia đình

Theo quy định pháp luật thì các hành vi bạo lực gia đình gồm (Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007):

- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;

- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.

- Cưỡng ép quan hệ tình dục;

- Cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tư nguyện, tiến bộ;

- Chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên trong gia đình;

- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.

Tại khoản 1 Điều 18 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định:

“Người phát hiện bạo lực gia đình phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 23 và khoản 4 Điều 29 của Luật này.”

Tại Điều 5 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007 quy định:

“1. Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình;

b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;

c) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;

d) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này;

đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Nạn nhân bạo lực gia đình có nghĩa vụ cung cấp thông tin liên quan đến bạo lực gia đình cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền khi có yêu cầu.”

Đối chiếu với các quy định trên, khi anh A có hành vi dùng bạo lực đối với chị thì chị quyền trình báo đến cơ quan công an gần nhất hoặc ủy ban nhân dân cấp xã nơi anh chị đang sinh sống và yêu cầu các cơ quan này xử lý hành vi trái pháp luật của chồng chị.

Bên cạnh đó, chị có thể liên hệ với các tổ chức xã hội như cơ sở hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình, hội phụ nữ trên địa bàn chị sinh sống để được tư vấn, hỗ trợ khi chị bị bạo lực gia đình.

2. Về mức xử phạt đối với hành vi bạo lực gia đình

Tại Điều 49 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định:

Điều 49. Hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích cho thành viên gia đình;

b) Không kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu điều trị trong trường hợp nạn nhân cần được cấp cứu kịp thời hoặc không chăm sóc nạn nhân trong thời gian nạn nhân điều trị chấn thương do hành vi bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với các hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

Tại Điều 51 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

Điều 51. Hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình.

2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Tiết lộ hoặc phát tán tư liệu, tài liệu thuộc bí mật đời tư của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

b) Sử dụng các phương tiện thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình;

c) Phổ biến, phát tán tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc xin lỗi công khai khi nạn nhân có yêu cầu đối với hành vi quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này;

b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh, âm thanh đối với hành vi quy định tại Điểm a, c Khoản 2 Điều này.”

Nếu hành vi bạo lực gia đình có tính chất nghiêm trọng, cấu thành tội phạm và có thể bị xử lý hình sự về Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình theo quy định tại Điều 185 Bộ luật hình sự 2015:

1. Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu;

b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.”

Đối chiếu với các quy định nêu trên, nếu chồng chị có những hành vi xâm hại đến sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của chị thì căn cứ theo tính chất, mức độ vi phạm thì chồng chị có thể bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi làm đơn tố cáo đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì chị phải thu thập các chứng cứ về hành vi bạo lực của chồng chị để chứng minh cho sự việc.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).
 
CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH DƯỚI 11% CÓ BỊ KHỞI TỐ KHÔNG?
Hỏi:
Tôi là Mai Thị G, thường trú tại thôn H, xã X, huyện A.Đ, tỉnh TTH. Do nghi ngờ chồng tôi là anh Trần Văn T ngoại tình với người phụ nữ khác, nên tôi đã bí mật theo dõi anh T. Đến ngày 14/02/2020 tôi đã bắt gặp anh T và chị Tạ Thị M đang thuê một phòng trọ và chung sống với nhau. Được biết, chị M cũng đang mang thai đứa con của chồng tôi được 05 tháng tuổi. Do không kiềm chế được cảm xúc, nên tôi đã lao vào giật tóc và dùng giày cao gót đánh vào mặt chị M. Hậu quảchị M phải nhập viện và phải khâu mấy mũi trên mặt. Theo kết quả giám định thương tật thì chị M bị tổn thương cơ thể là 3%. Nay tôi muốn hỏi luật sư: Trong trường hợp này thì tỉ lệ thương tật của chị M là 3% thì tôi có bị truy tố trách nhiệm hình sự không? Tôi xin chân thành cám ơn.
Người gửi: Minhle@gmail.com - Thành phố Huế (Ngày gửi: 21/04/2020)
Đáp:
 

Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;”

Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

“1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của người bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.”

Đối chiếu với các quy định trên, do tỷ lệ thương tật của chị M là 3% nhưng thuộc trường hợp đang mang thai nên chị có khả năng sẽ bị truy tố theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015. Tuy nhiên, đối với các vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 134 thì chỉ bị khởi tố khi có yêu cầu của bị hại. Như vậy, trong trường hợp này chị nên thương lượng thỏa thuận với chị M, nếu chị M không yêu cầu khởi tố thì chị sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu chị M có đơn yêu cầu khởi tố thì chị có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt làbị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Trường hợp chị không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng chị vẫn bị xử phạt hành chính từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng theo điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình và bồi thường dân sự cho chị M theo quy định pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).

ĐĂNG KÝ LẠI KHAI SINH
Hỏi:
Trình tự thủ tục và điều kiện đăng ký lại khai sinh theo quy định pháp luật hiện hành.
Người gửi: Vân Anh - Quảng Bình (Ngày gửi: 21/04/2020)
Đáp:
 

1. Điều kiện đăng ký lại khai sinh

Theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 123/2015/NĐ-CP:

- Việc khai sinh được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01/01/2016 nhưng Sổ hộ tịch và văn chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.

- Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại.

- Việc đăng ký lại khai sinh chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ.

2.Về thẩm quyền đăng ký lại khai sinh

Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký lại khai sinh trước đây hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu thường trú, thực hiện đăng ký lại khai sinh.

3. Trình tự thực hiện (theo Nghị định số 123/2015/NĐ-CP)

Bước 1: Người có yêu cầu đăng ký lại khai sinh nộp hồ sơ trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây hoặc nơi người yêu cầu thường trú thực hiện đăng ký lại khai sinh hoặc qua đường bưu chính.

Bước 2: Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính hợp lệ và đầy đủ các giấy tờ có trong hồ sơ:

Trường hợp nộp trực tiếp: Trường hợp hồ sơ hợp lệ và đầy đủ theo quy định thì Biên nhận hồ sơ, trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa hợp lệ, công chức được phân công trực tiếp nhận hướng dẫn bằng văn bản cho người nộp hồ sơ bổ sung và hoàn thiện hồ sơ theo quy định.

Trường hợp nộp qua bưu chính: Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp lệ thì thực hiện giải quyết theo quy định. Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa hợp lệ thì mời người nộp hồ sơ đến bổ sung theo quy định.

Bước 3: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, công chức Tư pháp – Hộ tịch kiểm tra, xác minh hồ sơ: Nếu việc đăng ký lại khai sinh là đúng theo quy định của pháp luật, công chức Tư pháp – Hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.

Nếu việc đăng ký lại khai sinh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn không phải là nơi đã đăng ký khai sinh trước đây, thì công chức Tư pháp – hộ tịch phải báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân nơi đăng ký khai sinh trước đây kiểm tra, xác minh về việc lưu giữ sổ hồ tịch tại cơ quan.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký khai sinh trước đây tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản về việc còn lưu giữ hoặc không lưu giữ được sổ hộ tịch.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh về việc không còn lưu giữ được sổ hộ tịch tại nơi đăng ký khai sinh, nếu thấy hồ sơ đầy đủ, chính xác, đúng quy định pháp luật, công chức Tư pháp – Hộ tịch báo cáo cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.

Trường hợp cần xác minh, thì thời hạn xác minh được kéo dài thêm không quá 08 ngày làm việc.

Trường hợp từ chối, thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do.

Bước 4: Căn cứ vào ngày hẹn trên Biên nhận đến nhận kết quả giải quyết tại Bộ phận tiếp nhận và trả hồ sơ của Ủy ban nhân dân, phường xã, thị trấn.

4. Hồ sơ gồm:

- Tờ khai theo mẫu quy định, trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu giữ được bản chính Giấy khai sinh;

- Bản sao toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của người yêu cầu hoặc hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác trong đó có thông tin liên quan đến nội dung khai sinh của người đó;

- Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh là cán bộ, công chức, viên chức đang là công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ trên phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha – con, mẹ - con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw).

Số tin trên trang:
Trang:[1]2345678910...
Văn bản mới
Nghĩ và viết
Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của HUELAW
 Đối với chúng tôi hiểu biết một cách sâu sắc về khách hàng chính là điều quan trọng để đi đến thành công. Sự đồng cảm và hiểu biết lẫn nhau là cơ sở để có một bản ý kiến tư vấn thật sự có giá trị cũng như cung cấp dịch vụ pháp lý một cách tốt nhất nhằm đem lại những giải pháp tối ưu theo đúng yêu cầu của khách hàng. HUELAW chú trọng xây dựng quan hệ cá nhân của từng thành viên đối với khách hàng, đảm bảo tư vấn đúng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tốt nhất chính là thành công của chúng tôi. Đến với HUELAW quý khách hàng sẽ nhận được sự trợ giúp về mặt pháp lý một cách nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.

 

Thông tin hoạt động
HUELAW
Với con đường tất yếu hội nhập để phát triển của một đất nước đang tiến về phía trước, phía không thể dừng lại; dịch vụ pháp lý đóng vai trò rất quan trọng để con đường đi đến điểm đích của mọi mối quan hệ không mù mờ và bở ngỡ. Các mối quan hệ xã hội đó đòi hỏi nhận thức, ý thức, kiến thức và cách thức sử dụng quy phạm pháp luật của các chủ thể sao cho đúng, nhanh gọn và hiểu quả là một nhu cầu mang tính thường xuyên.  

Trong khi đó nguồn cung ứng dịch vụ pháp lý không thể nói là đã hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu của các chủ thể trong các quan hệ phát sinh ở đời sống. Sự ra đời của Văn phòng luật sư Huế - HUELAW không nằm ngoài mục đích mang đến cho khách hàng sự đảm bảo liên tục các đòi hỏi cần thiết nhằm phục vụ cho các quan hệ pháp lý hình thành, tồn tại và chấm dứt.

Bằng sự nỗ lực không ngừng và cả những quyết tâm, phấn đấu nâng cao chuyên môn nghiệp vụ. Chúng tôi có mặt để phục vụ khách hàng của mình với khát vọng và sự tự chịu trách nhiệm bản thân - những cá nhân luôn luôn làm mới tư duy và đẩy nhanh tốc độ của hành động.Sự đảm bảo ấy, thể hiện một cách thực chất nhất khi các bạn đến với chúng tôi trong sự thẩm định về khả năng đáp ứng các yêu cầu!