Số lượt truy cập
  Tổng truy cập 5106938
  Hiện tại có 128 khách
Tìm kiếm thông tin
Tin mới
Sử dụng xe công đưa đón người nhà sẽ bị phạt 10-20 triệu đồng
Mẫu Đơn yêu cầu tuyên bố mất tích 2019 kèm hướng dẫn
Án lệ được áp dụng sau 30 ngày thay vì 45 ngày
Mẫu Bản kê khai tài sản 2019 cho mọi cán bộ, công chức
Những điểm mới cơ bản của Luật Thi hành án hình sự
Chốt lương tối thiểu vùng năm 2020 tăng 5,5%
Mẫu Tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu ngoại giao mới nhất 2019
Khởi tố chủ tịch Tập đoàn Mường Thanh Lê Thanh Thản
Mẫu Đơn đề nghị không hòa giải khi ly hôn năm 2019
Cựu tổng giám đốc VN Pharma đối diện án tử hình
Chọn vấn đề :
 
Bị tai nạn trên đường đi làm có được hưởng chế độ tai nạn lao động không?
Hỏi:
Thưa luật sư, anh trai tôi là công nhân làm việc cho một công ty, có tham gia bảo hiểm tai nạn lao động đầy đủ, vừa quakhi trên đường đi làm đã bị tai nạn giao thông. Vậy cho tôi hỏi trong trường hợp này thì anh tôi có được hưởng chế độ tai nạn lao động không?
Người gửi: Minhle@gmail.com - Quảng Bình (Ngày gửi: 03/05/2019)
Đáp:
 

Đáp:

Khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 có quy định về Tai nạn lao động như sau:

“Điều 3. Giải thích từ ngữ

……

8. Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.

…..”

Theo đó Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định Điều kiện để được hưởng chế độ tai nạn lao động là:

Điều 45. Điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động

Người lao động tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Bị tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, làm vệ sinh kinh nguyệt, tắm rửa, cho con bú, đi vệ sinh;

b) Ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động hoặc người được người sử dụng lao động ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;

c) Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý;

2. Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này;

3. Người lao động không được hưởng chế độ do Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chi trả nếu thuộc một trong các nguyên nhân quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Mặt khác, Khoản 1 Điều 40 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định các trường hợp người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị tai nạn lao động như sau:

Điều 40. Trường hợp người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động khi bị tai nạn lao động

1. Người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động quy định tại Điều 38 và Điều 39 của Luật này nếu bị tai nạn thuộc một trong các nguyên nhân sau:

a) Do mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây ra tai nạn mà không liên quan đến việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động;

b) Do người lao động cố ý tự hủy hoại sức khỏe của bản thân;

c) Do sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái với quy định của pháp luật.

….”

Như vậy, từ những quy định trên, anh của bạn có thể được hưởng chế độ tai nạn lao động nếu bị tai nạn trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở nhưng phải đảm bảo những yếu tố về thời gian và tuyến đường nhất định, bởi tại nạn lao động theo quy định về giải thích từ ngữ ở trên thì tại nạn lao động xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Đồng thời, tỷ lệ suy giảm khả năng lao động của anh bạn phải từ 5% trở lên do bị tai nạn và không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 40 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 nêu trên.

Bộ phận Tư vấn pháp luật – Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

Có được bán đất khi không có sự đồng ý của vợ hoặc chồng?
Hỏi:
Hỏi: Tôi có một mảnh đất chỉ đứng tên một mình tôi, nay tôi muốn bán nhưng vợ tôi không đồng ý, vậy cho tôi hỏi tôi có được bánmảnh đấtnày khi không có sự đồng ý của vợ không?
Người gửi: Hải Linh - Thành phố Huế (Ngày gửi: 22/04/2019)
Đáp:
 Bạn không nói rõ mảnh đất đó là tài sản riêng của bạn hay là tài sản chung của hai vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân nhưng trên giấy tờ chỉ đứng tên một mình người chồng là bạn, do đó có 2 trường hợp:

TRƯỜNG HỢP 1: Mảnh đất đó là tài sản riêng của bạn (có thể được hình thành trước hôn nhân hoặc trong thời kỳ hôn nhân).

Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về tài sản riêng của vợ, chồng như sau:

“Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Theo đó, Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng như sau:

“Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.”

 

Như vậy nếu đây là tài sản riêng của bạn thì khi bạn muốn bán mảnh đất này không cần phải có sự đồng ý của vợ bạn nếu hoa lợi, lợi tức từ mảnh đất này không phải là nguồn sống duy nhất của gia đình bạn. Còn nếu đây là tài sản riêng của bạn nhưnghoa lợi, lợi tức từ mảnh đất này là nguồn sống, chỗ ở duy nhất của gia đình bạn thì bạn cần được sự đồng ý của vợ bạn mới có thể bán mảnh đất này.

TRƯỜNG HỢP 2: Mảnh đất đó là tài sản chung của hai vợ chồng bạn.

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tài sản chung của vợ, chồng như sau:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Theo đó, Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung như sau:

“Điều 35. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.”

Như vậy, nếu đây là tài sản chung của hai vợ chồng bạn, được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì khi bạn muốn bán mảnh đất này phải có sự đồng ý của người vợ.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Muốn được cấp thêm một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi mua đất đồng sở hữu có được không?
Hỏi:
Thưa luật sư, tôi và em gái tôi có mua chung một mảnh đất, đồng sở hữu mảnh đất đó Khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chỉ được cấp có một quyển. Vậy tôi muốn được cấp thêm một quyển nữa có được không?
Người gửi: Vân Anh - Thành phố Huế (Ngày gửi: 22/04/2019)
Đáp:
 Khoản 2 Điều 98 Luật đất đai 2013 của Quốc hội quy định về Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau:

Điều 98. Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

…..

2. Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện.

….”

Trong trường hợp của bạn, bạn và em gái của bạn cùng mua chung một mảnh đất, đồng sở hữu mảnh đất đó. Như vậy, theo quy định tại Khoản 2 Điều 98 Luật đất đai 2013 thì thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất,và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện. Do đó bạn có thể xin cấp thêm 1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nữa theo quy định của pháp luật.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Có được tặng cho quyền sử dụng đất khi chưa có sổ đỏ không?
Hỏi:
Thưa luật sư, cho tôi hỏi bố mẹ tôi có một mảnh đất nhưng chưa có sổ đỏ. Bây giờ bố mẹ tôi muốn tặng cho tôi mảnh đất đó có được không?
Người gửi: Minhle@gmail.com - Quảng Bình (Ngày gửi: 22/04/2019)
Đáp:
 Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất như sau:

“Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng,cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại Khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, Góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy điịnh tại các điều 189, 190,191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”

Như vậy, theo quy định trên do mảnh đất của bố mẹ bạn hiện tại vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất (tức Sổ đỏ) do đó không thể tặng cho bạn mảnh đất trên được.

Để bạn được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp đối với mảnh đất trên thì bố mẹ bạn cần phải làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất đó theo quy định của pháp luật trước, sau đó mới làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng mảnh đất trên cho bạn.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định về điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất như sau:
 

“Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng,cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại Khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, Góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy điịnh tại các điều 189, 190,191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.”

Như vậy, theo quy định trên do mảnh đất của bố mẹ bạn hiện tại vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất (tức Sổ đỏ) do đó không thể tặng cho bạn mảnh đất trên được.

Để bạn được tặng cho quyền sử dụng đất hợp pháp đối với mảnh đất trên thì bố mẹ bạn cần phải làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất đó theo quy định của pháp luật trước, sau đó mới làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng mảnh đất trên cho bạn.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Có cần phải công chứng giấy tờ viết tay về việc mua bán xe ô tô không ?
Hỏi:
Thưa luật sư, hiện tại tôi có mua một chiếc xe ô tô chính chủ, vì chủ xe thua cá độ nên bán xe gấp do đó chỉ có giấy tờ mua bán viết tay giữa tôi và chủ xe. Vậy cho tôi hỏi, sau này nếu chủ xe đòi lại xe có được không? Giấy tờ mua bán xe này có cần phải đi công chứng hay không?
Người gửi: Vân Anh - Thành phố Huế (Ngày gửi: 25/03/2019)
Đáp:
 Việc mua bán xe ô tô giữa bạn và chủ xe là một giao dịch dân sự.

Điều 119 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hình thức giao dịch dân sự như sau:

“Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”

Theo đó, việc mua bán xe giữa bạn và chủ xe được quy định phải thể hiện bằng văn bản có công chứng hứng hoặc chứng thực theo điểm g khoản 1 Điều 10 Thông tư số 15/2014/TT-BCA:

“g) Giấy bán, cho, tặng xe của cá nhân phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đối với chữ ký của người bán, cho, tặng xe theo quy định của pháp luật về chứng thực.”

Như vậy, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp này là giấy tờ bán xe phải có công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thi trấn. Bạn mua xe nhưng chỉ làm giấy tờ viết tay mà không có công chứng, chứng thực, như vậy hợp đồng giao dịch dân sự này sẽ bị coi là vô hiệu do vi phạm về mặt hình thức thô quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự 2015:

"Điều 129. Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức

Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực."

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự 2015:

“Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.”

Tức là, trong trường hợp của bạn, khi mua bán xe chỉ làm giấy tờ viết tay mà không có công chứng, chứng thực nên giao dịch dân sự này vô hiệu (không có giá trị pháp lý).

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Bên thuê có được cho thuê lại nhà không?
Hỏi:
Thưa luật sư, tôi muốn thuê một căn nhà có nhiều phòng (4-5 phòng), tôi sẽ đầu tư cơ sở vật chất (bàn, ghế, bảng,…) rồi cho các thầy cô giáo thuê lại để dạy học có được không? Nếu được cho thuê như vậy tôi có cần phải đăng kí kinh doanh không?
Người gửi: ThuLe - Thành phố Huế (Ngày gửi: 19/03/2019)
Đáp:
 

Điều 472, Điều 475 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:

"Điều 472 Hợp đồng thuê tài sản

Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê.

Hợp đồng thuê nhà ở, hợp đồng thuê nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và quy định khác của pháp luật có liên quan."

"Điều 475 Cho thuê lại

Bên cho thuê có quyền cho thuê lại tài sản mà mình đã thuê, nếu được bên cho thuê đồng ý."

Như vậy, đối với hợp đồng thuê nhà, các bên tự thỏa thuận về thời hạn thuê, giá thuê, hình thức trả tiền và mục đích thuê nhà. Người thuê nhà chỉ thực hiện việc cho thuê lại tài sản mà mình đã thuê nếu có thỏa thuận trong hợp đồng hoặc được bên cho thuê đồng ý.

Trong trường hợp của bạn, bạn muốn thuê nhà với mục đích kinh doanh cho các thầy cô thuê lại để dạy học, như vậy:

-  Nếu hợp đồng hai bên có thỏa thuận về mục đích cho thuê cụ thể là kinh doanh cho thuê lại nhà thì hiển nhiên bạn có quyền cho các thầy cô thuê lại để dạy học.

-  Nếu hợp đồng hai bên có thỏa thuận về mục đích cho thuê nhưng không rõ ràng, chỉ thỏa thuận rằng bạn được thuê nhà với mục đích kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm và bên cho thuê không cấm; mà hoạt động kinh doanh cho thuê lại nhà thì pháp luật không cấm do đó lúc này bạn chỉ có quyền kinh doanh cho thuê lại nhà nếu được bên cho thuê đồng ý. Còn nếu bên cho thuê không đồng ý mà bạn vẫn thực hiện việc cho thuê lại nhà thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng căn cứ quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 132 Luật nhà ở 2014:

"Điều 132. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở

2. Bên cho thuê nhà ở có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà và thu hồi nhà ở đang cho thuê khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

đ) Bên thuê chuyển đổi, cho mượn, cho thuê lại nhà ở đang thuê mà không có sự đồng ý của bên cho thuê."

 

Khoản 1 Điều 3 Nghị định 39/2007/NĐ-CP quy định những trường hợp không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh như sau:

"Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, một số từ ngữ được hiểu như sau:

1. Cá nhân hoạt động thương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “thương nhân” theo quy định của Luật Thương mại. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động thương mại sau đây:

a) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các thương nhân được phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong;

b) Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định;

c) Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, nước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định;

d) Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc người bán lẻ;

đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định;

e) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác."

Như vậy, hoạt động cho thuê nhà không thuộc những trường hợp không bắt buộc phải đăng ký kinh doanh tại Khoản 1 Điều Nghị định 39/2007/NĐ-CP, cho nên sau khi được bên cho thuê đồng ý cho kinh doanh thuê lại nhà, bạn phải thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh cho thuê nhà. Bạn có ý định thuê nhà từ 4-5 phòng rồi cho thuê lại, việc kinh doanh này có quy mô nhỏ nên bạn có thể đăng ký dưới dạng hộ kinh doanh cá thể.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)

Ra nước ngoài định cư có được hưởng bảo hiểm xã hội một lần không?
Hỏi:
Thưa luật sư, cho tôi hỏi tôi tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đến nay đã được 9 năm, nay tôi đang có ý định ra nước ngoài để định cư, vậy tôi có được hưởng bảo hiểm xã hội một lần không? Và nếu được hưởng thì mức hưởng là bao nhiêu?
Người gửi: Minhle@gmail.com - Thành phố Huế (Ngày gửi: 14/03/2019)
Đáp:
 

Theo quy định tại khoản 1 điều 8 Nghị định 115/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc, các trường hợp được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần bao gồm:

Điều 8. Bảo hiểm xã hội một lần

1. Người lao động quy định tại Khoản1 và Khoản 2 Điều 2 của Nghị định này mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại các Khoản 1, 2 và 4 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội hoặc theo quy định tại Khoản 3 Điều 54 của Luật Bảo hiểm xã hội mà chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện;

b) Sau một năm nghỉ việc mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội;

c) Ra nước ngoài để định cư;

d) Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong,lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quyđịnh của Bộ Y tế;”

Theo quy định trên bạn thuộc trường hợp ra nước ngoài để định cư thì sẽ được hưởng bảo hiểm xã hội một lần với mức hưởng quy định tại khoản 2 điều 8 Nghị định 115/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc như sau:

2. Mức hưởng bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm được tính như sau:

a) 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng trước năm 2014;

b) 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi;

c) Trường hợp thời gian đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ một năm thì mức hưởng bảo hiểm xã hội bằng số tiền đã đóng, mức tối đa bằng 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)

Người chồng có thể giành quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi vợ chồng ly hônđược không?
Hỏi:
Thưa luật sư, vợ chồng tôi có một con gái được 13 tháng tuổi và chúng tôi đang làm thủ tục ly hôn. Cả tôi và vợ tôi đều muốn giành quyền nuôi con. Vậy cho tôi hỏi tôi có thể giành quyền nuôi con được không?
Người gửi: Minh Hoa - Thành phố Huế (Ngày gửi: 08/03/2019)
Đáp:
 Đáp:

Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con dưới 36 tháng tuổi sau khi ly hôn như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

…..

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Theo quy định trên thì con của vợ chồng bạn hiện tại mới được 13 tháng tuổi (dưới 36 tháng tuổi) do đó nếu vợ chồng bạn ly hôn,thông thường Tòa án sẽ quyết định giao con cho vợ bạn – tức người mẹ trực tiếp nuôi, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

Tuy nhiên, nếu bạn đưa ra được căn cứ chứng minh vợ bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bạn có thể sẽ giành được quyền nuôi con. Tòa án có thể căn cứ dựa trên các yếu tố sau đây:

- Thu nhập hàng tháng: Bạn cần chứng minh được thu nhập hàng tháng của bạn có thể đáp ứng được nhu cầu tài chính cho con phát triển tốt hơn.

- Chỗ ở ổn định: Bạn sẽ có lợi thế khi có thể đáp ứng được việc cho con một chỗ ở ổn định.

- Môi trường sống: Bạn sẽ có lợi thế hơn nếu chứng minh được môi trường sống của con khi ở với bạn sẽ tốt hơn với vợ bạn, cần chỉ ra con được sống ở đâu sau ly hôn, con sẽ ở cùng với ai, môi trường đó tốt như thế nào, bạn có thể dành cho con những tiện nghi như thế nào, việc học hành, vui chơi và di chuyển của con sẽ được đảm bảo ra sao.

- Thời gian làm việc: Bạn sẽ có lợi thế hơn nếu bạn có thể dành cho con nhiều thời gian và sự chăm sóc hơn vợ bạn.

- Hành vi: Nếu bạn chỉ ra được rằng hoạt động hàng ngày, lối sống của bạn lành mạnh, có ảnh hưởng tốt tới sự phát triển của con tốt hơn vợ bạn thì bạn sẽ có được lợi thế giành quyền nuôi con.

Trong trường hợp những căn cứ chứng minh vợ bạn không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà bạn đưa ra là không đủ thuyết phục thì bạn có thể lựa chọn thỏa thuận với vợ bạn để giao con cho bạn nuôi. Tòa án sẽ quyết định để bạn - người cha được trực tiếp nuôi con nếu xét thấy phù hợp với lợi ích của cháu bé.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Chấm dứt hợp đồng lao động vì cắt giảm nhân sự?
Hỏi:
Thưa luật sư, công ty tôi phải thu hẹp địa điểm sản xuất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước do đó công ty tôi muốn cho 05 công nhân thôi việc. Vậy cho tôi hỏi nếu cắt giảm nhân sự như vậy có được không? Công ty tôi có cần phải báo trước cho những công nhân đó và có phải thực hiện nghĩa vụ gì không?
Người gửi: Minh Hòa - Thành phố Huế (Ngày gửi: 26/02/2019)
Đáp:
 

Điều 38 Bộ Luật lao động 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:

“Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”

Theo đó Điều 12 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số nội dung của Bộ luật lao động về Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động như sau:

Điều 12. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động tại các Điểm a và c Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:

1. Người sử dụng lao động phải quy định cụ thể tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp, làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ do người sử dụng lao động ban hành sau khi có ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

2. Lý do bất khả kháng khác thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Do địch họa, dịch bệnh;

b) Di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy trường hợp công ty bạn đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động vì phải thu hẹp địa điểm sản xuất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước thuộc trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 38 Bộ luật lao động 2012 và điểm b khoản 2 Điều 12 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP, do vậy công ty bạn được phép đơn phương chấm dứt hợp đồng với 05 công nhân như đã nêu.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 47 Bộ Luật lao động 2012 về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

“Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.”

Do đó, trường hợp công ty bạn phải thu hẹp địa điểm sản xuất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước thì có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động nhưng phải thực hiện việc báo trước đối với người lao động. Thời gian báo trước tùy thuộc vào loại hợp đồng công ty ký kết với người lao động: ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn; ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ Luật lao động 2012 và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, công ty có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền lương, thưởng có liên quan đến quyền lợi của người lao động, trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)

Thủ tục từ chối nhận di sản thừa kế?
Hỏi:
Thưa luật sư, ông bà ngoại tôi vừa mới qua đời, nay mẹ tôi muốn từ chối tài sản do ông bà để lại thì cần phải làm những gì?
Người gửi: Hải Linh - Quảng Bình (Ngày gửi: 26/02/2019)
Đáp:
 Điều 620 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định chi tiết về từ chối di sản như sau:

Điều 620. Từ chối nhận di sản

1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

3. Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.”

Theo đó, Điều 59 Luật công chứng 2014 quy định Công chứng văn bản từ chối nhận di sản như sau:

" Điều 59. Công chứng văn bản từ chối nhận di sản

Người thừa kế có thể yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản. Khi yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản, người yêu cầu công chứng phải xuất trình bản sao di chúc trong trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người yêu cầu công chứng theo pháp luật về thừa kế; giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết"

Như vậy, mẹ bạn cần lập Văn bản từ chối nhận di sản mà ông bà bạn để lại và văn bản này phải được công chứng tại cơ quan công chứng (các tổ chức hành nghề công chứng trong nước; cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài) hoặc chứng thực tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

Khi yêu cầu công chứng Văn bản từ chối nhận di sản trên thì cần cung cấp bản sao di chúc trong trường hợp thừa kế theo di chúc hoặc giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người yêu cầu công chứng theo pháp luật về thừa kế; giấy chứng tử hoặc giấy tờ khác chứng minh người để lại di sản đã chết.

Thẩm quyền công chứng văn bản từ chối nhận di sản của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài được quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật công chứng 2014:

“Điều 78. Việc công chứng của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài

1. Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài được công chứng di chúc, văn bản từ chối nhận di sản, văn bản ủy quyền và các hợp đồng, giao dịch khác theo quy định của Luật này và pháp luật về lãnh sự, ngoại giao, trừ hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng bất động sản tại Việt Nam.

….”

Thẩm quyền công chứng văn bản từ chối nhận di sản của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn được quy định tại Điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và hợp đồng giao dịch quy định:

“Điều 5. Thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực

…..

2. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) có thẩm quyền và trách nhiệm:

…..

g) Chứng thực văn bản từ chối nhận di sản;”

 

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Điều kiện để được nhận nuôi con nuôi
Hỏi:
Thưa luật sư, cho tôi hỏi điều kiện để được nhận nuôi con nuôi là như thế nào ?
Người gửi: Long Nhat - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 29/01/2019)
Đáp:
 Căn cứ Điều 14, Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định về điều kiện của người nhận nuôi con nuôi như sau:

"Điều 14. Điều kiện đối với người nhận con nuôi

1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;

c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;

d) Có tư cách đạo đức tốt.

2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:

a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;

b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;

c) Đang chấp hành hình phạt tù;

d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 điều này."

Căn cứ theo điều 8, Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định về người được nhận làm con nuôi như sau:

"Điều 8. Người được nhận làm con nuôi

1. Trẻ em dưới 16 tuổi

2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;

b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.

3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.

4. Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi."

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Viên chức sinh con thứ ba sẽ bị xử lý như thế nào?
Hỏi:
Thưa Luật sư, tôi hiện đang là viên chức nhà nước, chuẩn bị sinh con thứ ba. Xin hỏi Luật sư hiện tại có những quy định gì để xử lý cho trường hợp này không?
Người gửi: Hoa Nguyen - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 29/01/2019)
Đáp:
 Trước đây khi thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình nhà nước có chủ trương cấm sinh con thứ 3 đối với công nhân viên chức. Nếu sinh con thứ 3 thì sẽ chịu xử phạt hành chính phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, tước chứng chỉ hành nghề, cấm đảm nhiệm chức vụ, hay bị khiển trách kỷ luật của cơ quan nơi người đó đang đảm nhiệm chức vụ, đang công tác.

Tuy nhiên, khi Nghị định 176/2013/NĐ-CP có hiệu lực kể từ 31/12/2013 ra đời, thay thế Nghị định 114/2006/NĐ-CP (đã hết hiệu lực thi hành) về xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em đã không đề cập gì đến việc xử lý việc sinh con thứ ba nữa.

Có nghĩa là pháp luật hiện tại không cấm việc sinh con thứ 3 đối với cán bộ, công chức, viên chức. Tuy nhiên, hình thức xử lý cụ thể cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức vi phạm được thực hiện theo quy định trong nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị đó đề ra nên cần tham khảo nội quy tại cơ quan người sinh con thứ ba đang làm việc. Vì vậy, bạn cần xem lại nội quy của cơ quan mình xem có quy định về vấn đề xử phạt viên chức sinh con thứ 3 hay không.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)

Cổ đông sáng lập có được chuyển nhượng toàn bộ cổ phần không?
Hỏi:
Thưa Luật sư, cho tôi hỏi cổ đông sáng lập của công ty cổ phần có được chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của mình cho người khác được không?
Người gửi: Minh Hoa - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 29/01/2019)
Đáp:
 Cổ đông sáng lập là người góp vốn cổ phần, tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản Điều lệ đầu tiên của công ty cổ phần. 

Khoản 3, khoản 4 Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định:

"3. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó.

4. Các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được bãi bỏ sau thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Các hạn chế của quy định này không áp dụng đối với cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp và cổ phần mà cổ đông sáng lập chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập của công ty." 

Điều 116 Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần biểu quyết như sau:

 

" 1. Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông. Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định.
...
 

3. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác."

Vì vậy, với mỗi loại cổ phần của cổ đông sáng lập sẽ có những quy định riêng về việc chuyển nhượng. Cụ thể như sau:

+ Cổ phần phổ thông: sẽ được tự do chuyển nhượng nếu công ty đã hoạt động được từ đủ 3 năm trở lên. Nếu vẫn trong thời hạn 3 năm từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì quyền chuyển nhượng sẽ bị hạn chế chỉ được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác, nếu chuyển nhượng cho cổ đông khác không phải cổ đông sáng lập hoặc cho người không phải cổ đông của công ty thì phải được sự đồng ý của các cổ đông sáng lập khác thông qua hình thức biểu quyết. 

+ Cổ phần ưu đãi cổ tức: thì luôn được tự do chuyển nhượng. 

Cổ phần ưu đãi biểu quyết: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 113 và Khoản 3 Điều 116 Luật Doanh nghiệp 2014 :

"3. Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông."

" 3. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác."

Từ quy định trên, cổ đông sáng lập nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết của công ty thì không thể chuyển nhượng cổ phần này cho người khác trong thời hạn 3 năm từ ngày công ty được cấp giấy đăng ký kinh doanh. Chỉ khi hết thời hạn 3 năm đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết được chuyển thành cổ phần phổ thông thì mới có thể chuyển nhượng.

Kết luận, cổ đông sáng lập có thể chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của mình cho người khác nếu công ty đã hoạt động được từ đủ 3 năm trở lên kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)

Chưa từng sinh con có được mang thai hộ không?
Hỏi:
Thưa luật sư, anh chồng (anh trai ruột của chồng em) và chị dâu mãi không sinh được con, đi khám thì bác sĩ bảo cả hai người đều bị vô sinh, mặc dù đã thử thụ tinh trong ống nghiệm nhưng vẫn không thể sinh con được. Cách đây không lâu hai vợ chồng anh chị ấy đã đề cập việc nhờ em mang thai hộ. Do em chưa mang thai và sinh con bao giờ nên rất lo lắng. Vậy cho em hỏi việc anh chồng và chị dâu nhờ em mang thai hộ như vậy có đúng với quy định của pháp luật không? Em có thể mang thai hộ được không?
Người gửi: Hoai Thu - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 15/01/2019)
Đáp:
 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về mang thai hộ như sau:

-       Khoản 22 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con”.

-       Khoản 23 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác”.

Theo đó, pháp luật cấm trường hợp mang thai hộ vì mục đích thương mại (quy định cấm tại điểm g, khoản 2, Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình 2014) và chỉ cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nhưng phải kèm theo các điều kiện cụ thể.

Khoản 1, Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:"Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản". Tức là, để thực hiện việc mang thai hộ thì cần phải có sự tự nguyện của bên nhờ mang thai hộ và bên được nhờ mang thai hộ, không được có bất kỳ sự uy hiếp hay áp đặt ý chí từ bất kì người nào.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:

"a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

b) Vợ chồng đang không có con chung;

c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý."

Như vậy, những cặp vợ chồng vô sinh chưa áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng vẫn không thể có con, đồng thời trước đó họ không có con chung với nhau và đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý thì cặp vợ chồng đó đủ điều về quyền nhờ người mang thai hộ. Theo như trường hợp của bạn thì anh chồng và chị dâu của bạn dù đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng vẫn không thể sinh con, trước đó hai người cũng chưa có người con chung nào. Do đó, anh chồng và chị dâu của bạn chỉ cần được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý thì họ sẽ đủ điều kiện về quyền nhờ mang thai hộ theo quy định của pháp luật

Đồng thời Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện quy định tại Khoản 3, Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình 2014 sau đây:

"a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý."

Theo hướng dẫn của Khoản 7, Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP thì người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ bao được quy định như sau:

"7. Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với họ."

Như vậy bạn đáp ứng điều kiện người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ. Tuy nhiên, như bạn đã nói ở trên thì bạn chưa mang thai và sinh con lần nào, điều này lại không đáp ứng điều kiện “đã từng sinh con”. Do vậy, theo quy định của pháp luật bạn không được mang thai hộ.

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Cho thuê nhà có bắt buộc phải đăng ký kinh doanh?
Hỏi:
Tôi hiện có một căn hộ chưa sử dụng nên cho thuê để lấy thêm thu nhập, hợp đồng thuê nhà hai bên ký thỏa thuận 1 năm đồng thời thanh toán tiền thuê 6 tháng/lần. Vậy tôi có cần phải đăng ký kinh doanh không, nếu không đăng ký kinh doanh tôi có bị phạt không?
Người gửi: Minh Thu - Thành Phố Huế (Ngày gửi: 15/01/2019)
Đáp:
 Khoản 1, Điều 3 Nghị định 39/2007/NĐ-CP quy định về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh như sau:

"1 Cá nhân hoạt động th­ương mại là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động đ­ược pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác như­ng không thuộc đối t­ượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là “th­ương nhân” theo quy định của Luật Thương mại. Cụ thể bao gồm những cá nhân thực hiện các hoạt động th­ương mại sau đây:

a) Buôn bán rong (buôn bán dạo) là các hoạt động mua, bán không có địa điểm cố định (mua rong, bán rong hoặc vừa mua rong vừa bán rong), bao gồm cả việc nhận sách báo, tạp chí, văn hóa phẩm của các th­ương nhân đ­ược phép kinh doanh các sản phẩm này theo quy định của pháp luật để bán rong;

b) Buôn bán vặt là hoạt động mua bán những vật dụng nhỏ lẻ có hoặc không có địa điểm cố định;

c) Bán quà vặt là hoạt động bán quà bánh, đồ ăn, n­ước uống (hàng nước) có hoặc không có địa điểm cố định;

d) Buôn chuyến là hoạt động mua hàng hóa từ nơi khác về theo từng chuyến để bán cho người mua buôn hoặc ng­ười bán lẻ;

đ) Thực hiện các dịch vụ: đánh giày, bán vé số, chữa khóa, sửa chữa xe, trông giữ xe, rửa xe, cắt tóc, vẽ tranh, chụp ảnh và các dịch vụ khác có hoặc không có địa điểm cố định;

e) Các hoạt động thương mại một cách độc lập, th­ường xuyên không phải đăng ký kinh doanh khác."

Như vậy, hoạt động cho thuê nhà của bạn không nằm trong những hoạt động thương mại không phải đăng ký kinh doanh nên bạn phải đăng ký kinh doanh cho thuê nhà. Vì việc kinh doanh này có quy mô nhỏ, nên chỉ cần đăng ký dưới dạng hộ kinh doanh cá thể.

Nếu bạn không đăng ký kinh doanh sẽ bị xử phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng vì hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh mà không có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh theo quy định tại khoản 7, Điều 1 Nghị định 124/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng):

"7. Sửa đổi Điều 6 như sau:

“Điều 6. Hành vi vi phạm về hoạt động kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh không đúng địa điểm, trụ sở ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh mà không có Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh theo quy định.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp mà không có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tiếp tục hoạt động kinh doanh trong thời gian bị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

5. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm quy định từ Khoản 1 đến Khoản 4 Điều này trong trường hợp kinh doanh ngành, nghề thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.”

Bộ phận tư vấn pháp luật – Văn phòng luật sư Huế (Huelaw)
 
Số tin trên trang:
Trang:[1]2345678910...
Văn bản mới
Nghĩ và viết
Nghề Luật Sư.

Nghề luật sư được cho là tiêu biểu nhất và thể hiện đầy đủ nhất những đặc trưng của nghề luật. Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì người luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Luật sư là những người được trọng vọng trong xã hội bởi họ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền cơ bản của công dân và phát triển xã hội.Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Nếu hiểu nghề luật như là nghề kiếm sống có liên quan đến luật, có thể kể ra nhiều công việc khác cũng được gọi là nghề luật như: chấp hành viên, điều tra viên, giám định viên, chuyên viên pháp lý, cố vấn pháp lý, giáo viên dạy luật, cán bộ nghiên cứu pháp luật… trong các cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan công an, cơ quan hành chính Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp, trường học, viện nghiên cứu… . Ở nghĩa rộng, chúng ta thấy nghề luật thật phong phú và đa dạng  trong xã hội

 

Thông tin hoạt động
Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của HUELAW

Đối với chúng tôi hiểu biết một cách sâu sắc về khách hàng chính là điều quan trọng để đi đến thành công. Sự đồng cảm và hiểu biết lẫn nhau là cơ sở để có một bản ý kiến tư vấn thật sự có giá trị cũng như cung cấp dịch vụ pháp lý một cách tốt nhất nhằm đem lại những giải pháp tối ưu theo đúng yêu cầu của khách hàng. HUELAW chú trọng xây dựng quan hệ cá nhân của từng thành viên đối với khách hàng, đảm bảo tư vấn đúng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tốt nhất chính là thành công của chúng tôi. Đến với HUELAW quý khách hàng sẽ nhận được sự trợ giúp về mặt pháp lý một cách nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.