Số lượt truy cập
  Tổng truy cập 4754422
  Hiện tại có 32 khách
Tìm kiếm thông tin
Tin mới
Phân biệt chế định “Tha tù trước thời hạn có điều kiện”của BLHS 2105 với “Đặc xá” do Chủ tịch nước quyết định
3 bước nghiên cứu, xây dựng hồ sơ kiểm sát phúc thẩm dân sự
Vụ Phương Nga: Miễn tội nhưng sợ đã... giam lố
10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch tiêu biểu năm 2018
85 triệu thẻ ATM chuyển sang thẻ chip: Hết lo mất tiền?
Đại hội Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ VII (nhiệm kỳ 2019-2024)
Giải quyết vụ việc dân sự khi chưa có điều luật để áp dụng
Về Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo
Luật sư đưa 3 lý do không nên cấm ghi âm, ghi hình tại trụ sở tiếp dân
Thủ tướng: “Tiếp dân phải ghi âm, ghi hình”
 Nghiên cứu và Trao đổi
Giải quyết vụ việc dân sự khi chưa có điều luật để áp dụng
Ngày cập nhật: 11/01/2019
 HUELAW - Bộ luật Dân sự 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có rất nhiều những quy định được sửa đổi, bổ sung theo hướng ghi nhận các giá trị phổ quát về quyền con người được thừa nhận rộng rãi trên thế giới, trong đó có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”
 1.Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng

Hiến pháp năm 2013 đã quy định ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng[1].

Điều 2 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 2013, theo đó, ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền dân sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền dân sự chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Tuy nhiên, dù các nhà làm luật có làm tốt đến đâu cũng không thể quy định hết các quan hệ dân sự phát sinh trong đời sống hằng ngày. BLDS 2015 cũng đã dự liệu quan hệ dân sự phát sinh chưa có điều luật điều chỉnh: Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của BLDS; Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự; Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 6 BLDS thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của BLDS 2015, án lệ, lẽ công bằng.

Đồng thời, để bảo vệ, bảo đảm quyền dân sự, BLDS 2015 quy định cá nhân, pháp nhân có thể tự bảo vệ quyền dân sự[2] hoặc bảo vệ quyền dân sự thông qua cơ quan có thẩm quyền[3]. Đặc biệt, BLDS 2015 quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng; trong trường hợp này, quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Bộ luật này được áp dụng.” (khoản 2 Điều 14).

2.Quy định pháp luật về giải quyết vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng 

Để bảo đảm sự tương thích với quy định nêu trên của BLDS 2015, khoản 2 Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2015 cũng quy định: 2. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.

 Vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.

 Việc giải quyết vụ việc dân sự quy định tại khoản này được thực hiện theo các nguyên tắc do Bộ luật dân sự và Bộ luật này quy định.

Như vậy, với quy định của BLDS 2015 và BLTTDS 2015 thì không phải mọi khởi kiện, mọi yêu cầu nào Tòa án cũng thụ lý giải quyết, các bộ luật này đã giới hạn vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng mà Tòa án thụ lý giải quyết là vụ việc dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự nhưng tại thời điểm vụ việc dân sự đó phát sinh và cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án giải quyết chưa có điều luật để áp dụng.

Đồng thời, BLTTDS 2015 cũng quy định thẩm quyền của Tòa án giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng tại Mục 3 Chương III gồm 3 điều (từ Điều 43 đến Điều 45). Theo đó:

– Thẩm quyền của Tòa án thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 35 đến Điều 41 của BLTTDS 2015.

– Trình tự, thủ tục thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng theo thủ tục chung.

– Khi giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng Tòa án căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết.

3.Nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

Nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng được quy định tại Điều 45 BLTTDS 2015. Theo Điều 45 BLTTDS 2015, việc áp dụng các căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng thực hiện theo thứ tự sau: (1) Áp dụng tập quán; (2) Áp dụng tương tự pháp luật; (3) Áp dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật, án lệ, lẽ công bằng.

 3.1. Áp dụng tập quán

Theo quy định tại Điều 5 BLDS 2015 thì một quy tắc xử sự được xác định là tập quán khi có đủ các tiêu chí sau[4]: (1) Có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể; (2) Được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài; (3) Được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự.

Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự chưa có điều luật để áp dụng, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng. Trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự.

Tòa án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán. Tập quán được áp dụng để giải quyết vụ việc dân sự khi có đủ các điều kiện sau[5]: (1) Các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định về nội dung giải quyết vụ việc dân sự đó; (2) Tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 BLDS 2015.

3.2. Áp dụng tương tự pháp luật

Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng để giải quyết vụ việc dân sự thì Tòa án áp dụng tương tự pháp luật trên cơ sở đã xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc dân sự và xác định có quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.

3.3. Áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng

Khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật thì Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự.

3.3.1. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là những nguyên tắc được quy định tại Điều 3 BLDS 2015, cụ thể là:

(1) Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản;

(2) Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng;

(3) Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực;

(4) Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác;

(5) Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

3.3.2. Án lệ

Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử.

Án lệ được Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự.

3.3.3. Lẽ công bằng

Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó.

Đối với việc giải quyết vụ việc dân sự theo nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng, cần lưu ý, BLTTDS 2015 không xác định thứ tự ưu tiên áp dụng. Như vậy, theo chúng tôi, khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật thì về nguyên tắc, Tòa án có thể áp dụng một hoặc đồng thời áp dụng nhiều căn cứ trong các căn cứ trên để giải quyết vụ việc dân sự.

4.Kiến nghị, đề xuất

Để pháp luật thực sự đi vào đời sống, theo chúng tôi, Chính phủ cần sớm rà soát và công bố danh mục các tập quán được áp dụng trong lĩnh vực dân sự; Tòa án nhân dân tối cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng, đồng thời lựa chọn, công bố án lệ đối với những bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng.

Bên cạnh đó, cũng cần nâng cao năng lực của đội ngũ Thẩm phán để bảo đảm Thẩm phán có đủ trình độ, kiến thức, thái độ để có thể đủ mạnh dạn, tự tin giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng, bảo đảm Tòa án thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Từ đó, tạo ra nguồn các bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng có thể được lựa chọn, công bố là án lệ cho việc giải quyết những vụ việc tương tự.

 

 

[1] Điều 14 Hiến pháp 2013.

[2] Điều 12 BLDS 2015.

[3] Điều 14 BLDS 2015.

[4] Xem khoản 1 Điều 5 BLDS 2015.

[5] Xem khoản 2 Điều 5 BLDS 2015; khoản 1 Điều 45 BLTTDS 2015.

Theo Bao Phap Luat
 Gửi tin qua E-mail   In ấn
TIN MỚI NHẤT
Phân biệt chế định “Tha tù trước thời hạn có điều kiện”của BLHS 2105 với “Đặc xá” do Chủ tịch nước quyết định (18.01.2019)
3 bước nghiên cứu, xây dựng hồ sơ kiểm sát phúc thẩm dân sự (15.01.2019)
Về Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo (10.01.2019)
Chế định án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam (07.01.2019)
CÁC TIN KHÁC
Một số vi phạm trong giải quyết vụ án hành chính dẫn tới hủy án và sửa án (02.01.2019)
Những vấn đề rút kinh nghiệm khi giải quyết vụ án liên quan đến giao dịch bảo đảm (26.12.2018)
Giải quyết tố cáo trong Tòa án nhân dân (21.12.2018)
Luật Đặc xá năm 2018 – Những điểm mới sửa đổi, bổ sung (20.12.2018)
Từ các đại án kinh tế: Cân nhắc sửa đổi chế định về tổng hợp hình phạt (14.12.2018)
Xem tin theo ngày  
Văn bản mới
Nghĩ và viết
Nghề Luật Sư.

Nghề luật sư được cho là tiêu biểu nhất và thể hiện đầy đủ nhất những đặc trưng của nghề luật. Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì người luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Luật sư là những người được trọng vọng trong xã hội bởi họ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền cơ bản của công dân và phát triển xã hội.Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Nếu hiểu nghề luật như là nghề kiếm sống có liên quan đến luật, có thể kể ra nhiều công việc khác cũng được gọi là nghề luật như: chấp hành viên, điều tra viên, giám định viên, chuyên viên pháp lý, cố vấn pháp lý, giáo viên dạy luật, cán bộ nghiên cứu pháp luật… trong các cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan công an, cơ quan hành chính Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp, trường học, viện nghiên cứu… . Ở nghĩa rộng, chúng ta thấy nghề luật thật phong phú và đa dạng  trong xã hội

 

Thông tin hoạt động
CHÚC MỪNG NĂM MỚI!

Nhân dịp năm mới 2019 - Xuân Kỷ Hợi, HUELAW kính gửi đến qúy khách hàng, quý đối tác, bạn bè - những người đã và đang tin cậy, ủng hộ, đồng hành cùng HUELAW - lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Kính chúc Quý vị cùng gia quyến một năm mới thật nhiều Sức khỏe - Hạnh phúc - May mắn - An khang và Thịnh vượng.