Số lượt truy cập
  Tổng truy cập 5106892
  Hiện tại có 93 khách
Tìm kiếm thông tin
Tin mới
Sử dụng xe công đưa đón người nhà sẽ bị phạt 10-20 triệu đồng
Mẫu Đơn yêu cầu tuyên bố mất tích 2019 kèm hướng dẫn
Án lệ được áp dụng sau 30 ngày thay vì 45 ngày
Mẫu Bản kê khai tài sản 2019 cho mọi cán bộ, công chức
Những điểm mới cơ bản của Luật Thi hành án hình sự
Chốt lương tối thiểu vùng năm 2020 tăng 5,5%
Mẫu Tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu ngoại giao mới nhất 2019
Khởi tố chủ tịch Tập đoàn Mường Thanh Lê Thanh Thản
Mẫu Đơn đề nghị không hòa giải khi ly hôn năm 2019
Cựu tổng giám đốc VN Pharma đối diện án tử hình
 Nghiên cứu và Trao đổi
Tòa xử đến đâu, viện kháng nghị tới đó
Ngày cập nhật: 03/05/2019
 HUELAW - Người cha mất năm 1984, để lại mảnh đất đã tạo ra một vụ kiện thú vị khi từ đầu đến cuối luôn có tranh cãi pháp lý về thời hiệu khởi kiện.
 Cụ Nguyễn Cháu và vợ là cụ Nguyễn Thị Thẻ có tám người con, trong đó có bốn người đã mất (đều không có con cái) và bốn người còn sống là các bà Nguyễn Thị Quýt, Nguyễn Thị Dảnh, Nguyễn Thị Yến, Nguyễn Thị Nhung. Cụ Cháu mất năm 1984 và cụ Thẻ mất năm 2008, cả hai người đều không để lại di chúc. Di sản của hai cụ là mảnh đất 3.162,8 m2 ở huyện Chơn Thành, Bình Phước chưa được cấp giấy đỏ.

Rắc rối thời hiệu khởi kiện

Tháng 8-2008, bà Dảnh khởi kiện bà Nhung yêu cầu chia di sản thừa kế và được TAND huyện Chơn Thành thụ lý (bà Yến và bà Quýt là người liên quan trong vụ án). Năm 2014, tòa huyện xử sơ thẩm, xác định đã hết thời hiệu yêu cầu phân chia di sản của cụ Cháu, chỉ giải quyết yêu cầu phân chia di sản của cụ Thẻ. Theo đó, giao di sản mà bà Quýt được hưởng cho bà Nhung quản lý; các bà Yến, Dảnh được giao quản lý một phần di sản thừa kế của cụ Thẻ để lại. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm giấy chủ quyền.

Sau đó VKSND huyện kháng nghị với lý do tòa giao di sản như vậy là không đúng, việc chia tạm giao các phần di sản cho các đương sự nhưng không ghi tứ cận rõ ràng gây khó khăn cho thi hành án. Năm 2015, TAND tỉnh Bình Phước xử phúc thẩm, chấp nhận kháng nghị và tuyên hủy án sơ thẩm.

Tháng 5-2018, tòa huyện xử sơ thẩm lần hai, tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Dảnh và yêu cầu độc lập của người liên quan là bà Yến yêu cầu tòa chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản chung của cha mẹ để lại. Theo đó, các đương sự được chia phần di sản có ghi rõ tứ cận đầy đủ, trong đó việc chia phần nhiều hay ít hơn cho từng người dựa trên công sức đóng góp trong việc cải tạo, gìn giữ, quản lý di sản.

Tháng 6-2018, đến lượt VKSND tỉnh Bình Phước kháng nghị bản án sơ thẩm lần hai. Theo kháng nghị, căn cứ Điều 36 Pháp lệnh 44/1990 của Hội đồng Nhà nước thì đã hết thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu chia di sản của cụ Cháu (giống nhận định của bản án sơ thẩm lần thứ nhất - PV).

Tháng 8-2018, TAND tỉnh xử phúc thẩm lần hai, bác kháng nghị của VKSND cùng cấp. Theo tòa, yêu cầu chia thừa kế đất của vợ chồng cụ Cháu, cụ Thẻ được tòa án sơ thẩm thụ lý khi BLDS 2015 đã có hiệu lực. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015 và Nghị quyết 103/2015 của Quốc hội, tòa áp dụng khoản 1 Điều 623 BLDS 2015 về thời hiệu thừa kế để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản và xác định thời hiệu là vẫn còn.

Mới đây, bị đơn là bà Nhung có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm vì theo bà, đã hết thời hiệu để tòa giải quyết vụ tranh chấp di sản này.

Tòa xử đến đâu, viện kháng nghị tới đó - ảnh 1

VKS kháng nghị đúng?

Hiện bản án phúc thẩm lần hai đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn có ý kiến khác nhau về thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với phần di sản của cụ Cháu còn hay hết.

Theo ThS Lưu Minh Sang (Trường ĐH Kinh tế - Luật TP.HCM), kháng nghị của VKS là có cơ sở bởi thời hiệu chia di sản không còn. Điều 2 Nghị quyết 103/2015 của Quốc hội quy định đối với các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, phát sinh trước ngày 1-1-2017 thì áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004 để giải quyết. Trong khi Điều 645 BLDS 2005 quy định thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời điểm để tính mở thừa kế trong vụ việc này là ngày 10-9-1990 (ngày công bố Pháp lệnh thừa kế), trong khi các đương sự có tranh chấp phân chia di sản vào năm 2008 là đã 18 năm (quá 10 năm) nên thời hiệu là không còn.

Đồng tình, luật sư (LS) Nguyễn Hoàng Nam, Đoàn LS TP.HCM, cho rằng cần áp dụng quy định pháp luật tại thời điểm tòa thụ lý vụ án. Vụ án được tòa thụ lý sơ thẩm lần một vào tháng 9-2008, thụ lý sơ thẩm lần hai vào tháng 5-2016. Tại hai thời điểm này, BLDS 2005 và BLTTDS 2004 đang có hiệu lực thi hành. Như vậy, xét theo quy định Điều 645 BLDS 2005 và điểm a khoản 1 Điều 168 BLTTDS 2004 thì thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ Cháu đã hết.

LS Nguyễn Văn Hồng, Đoàn LS TP.HCM, phân tích thêm: TAND Tối cao có Công văn 01/2018 hướng dẫn vướng mắc về nghiệp vụ cho các tòa cấp dưới về việc tính thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp người để lại di sản thừa kế là bất động sản chết trước năm 1987 mà hiện nay tòa mới thụ lý.

Theo đó, kể từ ngày BLDS 2015 có hiệu lực thi hành, theo điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015, khoản 4 Điều 4 Nghị quyết 02/2016 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao (hướng dẫn thi hành Nghị quyết 103/2015 của Quốc hội về việc thi hành BLTTDS 2015) thì từ ngày 1-1-2017, tòa áp dụng khoản 1 Điều 623 BLDS 2015 về thời hiệu thừa kế để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản. Cụ thể, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Nhưng trong vụ này, tòa sơ thẩm thụ lý sơ thẩm lần một vào năm 2008 và lần hai vào năm 2016 nên phải áp dụng luật tại thời điểm thụ lý, tức phải áp dụng BLDS 2005.

Quan điểm khác

Theo TS Nguyễn Xuân Quang (Phó Trưởng khoa Luật dân sự, ĐH Luật TP.HCM), phải áp dụng BLDS 2015 để giải quyết vụ án này. Bởi thời hiệu yêu cầu chia thừa kế đối với bất động sản là 30 năm, căn cứ vào điều khoản chuyển tiếp tại Điều 688 BLDS 2015 thì thời hiệu trong trường hợp này là vẫn còn.

LS Huỳnh Kim Ngân, Đoàn LS TP.HCM, cũng cho rằng cần áp dụng luật tại thời điểm xét xử chứ không phải thời điểm thụ lý vụ án. Vì BLDS 2015 đã có hiệu lực và là văn bản quy phạm có giá trị pháp lý cao hơn nên dù có những quy định khác nhau trong việc tính thời hiệu cũng nhất thiết phải áp dụng luật này. Theo Điều 623 BLDS 2015 thì thời hiệu để người thừa kế chia di sản là 30 năm đối với bất động sản. Như vậy, cụ Cháu mất năm 1984, thời điểm tính mở thừa kế từ ngày 10-9-1990 đến khi phát sinh tranh chấp thì chưa đủ 30 năm. Vậy, vẫn còn thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế và nhận định của HĐXX phúc thẩm là hợp lý. 

 

MINH CHUNG
Theo Bao Phap Luat
 Gửi tin qua E-mail   In ấn
TIN MỚI NHẤT
Những điểm mới cơ bản của Luật Thi hành án hình sự (12.07.2019)
Sổ đỏ, sổ hồng có phải là tài sản? Có kiện đòi được không? (01.07.2019)
Tội rửa tiền và hướng dẫn áp dụng của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (29.06.2019)
'Chỉ có quyền tự do kinh doanh, không có quyền anh quyền tôi' (29.06.2019)
Dân được quyền kiện hành chính đến cấp nào? (21.06.2019)
CÁC TIN KHÁC
Bàn về nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS năm 2015 (18.06.2019)
Kiểm sát viên nói giọng khó nghe có là lý do để tòa thay đổi? (15.06.2019)
Thủ tục giải quyết vụ án ly hôn nhân mà bị đơn là người bị Tòa án tuyên bố mất tích (08.06.2019)
10 điểm cần lưu ý khi khởi kiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (01.06.2019)
Toàn bộ thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai mới nhất (30.05.2019)
Xem tin theo ngày  
Văn bản mới
Nghĩ và viết
Nghề Luật Sư.

Nghề luật sư được cho là tiêu biểu nhất và thể hiện đầy đủ nhất những đặc trưng của nghề luật. Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì người luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Luật sư là những người được trọng vọng trong xã hội bởi họ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền cơ bản của công dân và phát triển xã hội.Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Nếu hiểu nghề luật như là nghề kiếm sống có liên quan đến luật, có thể kể ra nhiều công việc khác cũng được gọi là nghề luật như: chấp hành viên, điều tra viên, giám định viên, chuyên viên pháp lý, cố vấn pháp lý, giáo viên dạy luật, cán bộ nghiên cứu pháp luật… trong các cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan công an, cơ quan hành chính Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp, trường học, viện nghiên cứu… . Ở nghĩa rộng, chúng ta thấy nghề luật thật phong phú và đa dạng  trong xã hội

 

Thông tin hoạt động
Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của HUELAW

Đối với chúng tôi hiểu biết một cách sâu sắc về khách hàng chính là điều quan trọng để đi đến thành công. Sự đồng cảm và hiểu biết lẫn nhau là cơ sở để có một bản ý kiến tư vấn thật sự có giá trị cũng như cung cấp dịch vụ pháp lý một cách tốt nhất nhằm đem lại những giải pháp tối ưu theo đúng yêu cầu của khách hàng. HUELAW chú trọng xây dựng quan hệ cá nhân của từng thành viên đối với khách hàng, đảm bảo tư vấn đúng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng một cách tốt nhất chính là thành công của chúng tôi. Đến với HUELAW quý khách hàng sẽ nhận được sự trợ giúp về mặt pháp lý một cách nhanh chóng, chính xác, hiệu quả.