liên hệ với chúng tôi
Tìm kiếm tin tức
Thống kê truy cập
Truy cập tổng 7.158.832
Truy cập hiện tại 781
Chia tài sản khi ly hôn
Ngày cập nhật 17/03/2021

Hỏi:

 Năm 2015 tôi có đăng ký kết hôn với anh Lê Văn C. Trong quá trình sinh sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, anh C thường xuyên đánh đập tôi. Nay cả hai vợ chồng đều muốn ly hôn và đã thỏa thuận được về vấn đề nuôi con chung. Tuy nhiên, cả hai đều không thống nhất về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng. Cụ thể: trong quá trình chung sống, chúng tôi có tạo lập được một tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 13, tờ bản đồ số 01, diện tích: 200m2 đất ở tọa lạc tại địa chỉ số 45 đường HQ, phường AD, thành phố H, tỉnh TTH và nhà ở gắn liền với đất là nhà cấp 4, trụ bê tông cốt thép, lợp ngói với diện tích xây dựng là 150m2; 01 xe ô tô Mazda cx-5.

Bên cạnh đó, vào năm 2018, cha mẹ của tôi có làm thủ tục tặng cho tôi 100m2 quyền sử dụng đất tại địa chỉ số 36 đường PCT, phường AC, thành phố H và tôi cũng làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên một mình tôi. Nay ly hôn thì chồng tôi lại đòi chia đôi tất cả tài sản, trong đó có quyền sử dụng đất riêng của tôi. Anh ấy nói rằng đó là tài sản do tôi được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của vợ chồng.

Tôi muốn hỏi luật sư: theo quy định của pháp luật thì khối tài sản trên sẽ được chia như thế nào? Tài sản do cha mẹ tặng riêng cho tôi trong thời kỳ hôn nhân có phải là tài sản chung của vợ chồng không? Tôi xin cảm ơn

Đáp:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, thông tin do bạn cung cấp, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi có ý kiến tư vấn như sau:

 Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

“1. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và có thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Đối chiếu với quy định pháp luật trên thì xác định tài sản chung của vợ chồng bạn là tài sản được tạo lập ra trong thời kỳ hôn nhân chỉ gồm: 01 xe ô tô Mazda CX-5 và quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa số số 13, tờ bản đồ số 01, diện tích: 200m2 đất ở tọa lạc tại địa chỉ số 45 đường HQ, phường AD, thành phố H, tỉnh TTH và nhà ở gắn liền với đất là nhà cấp 4, trụ bê tông cốt thép, lợp ngói, diện tích xây dựng là 150m2.

Tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định pháp luật thuộc sở hữu của vợ chồng.”

Đối chiếu với quy định pháp luật trên, việc chồng của bạn cho rằng tài sản mà bạn được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng là không đúng với quy định của pháp luật. Mà phải xác định quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa đất số 34, tờ bản đồ số 11, diện tích: 100m2, tọa lạc tại số 36 đường PCT, phường AC, thành phố H là tài sản riêng của bạn mới phù hợp với quy định của pháp luật.

  Về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì do các bên tự thỏa thuận, trong trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng bạn sẽ được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như: hoàn cảnh gia đình của vợ chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của các bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:

“4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trỗn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.”

Đối chiếu với quy định trên, khi ly hôn thì tài sản riêng của bạn vẫn thuộc về bạn và anh C không có quyền yêu cầu chia tài sản riêng của bạn trừ trường hợp bạn đã nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

Bộ phận tư vấn pháp luật - Văn phòng Luật sư Huế (HUELAW)

Bài viết khác
Xem tin theo ngày  
Đối tác
TRT HuếVTV8Báo tuổi trẻBáo pháp luậtBáo Thừa Thiên HuếĐH Luật HuếĐH Kinh tế HuếCông ty DigitechXe buýt Hoàng ĐứcKhách sạn Hoàng CungKhách sạn GoldKhách sạn RomanceCông ty du lịch Hương GiangCông ty du lịch Thanh TâmĐất xanh miền TrungCông ty cổ phần du lịch Huế - Nhà hàng nổi sông Hương